TRỒNG XEN LẠC TRONG VƯỜN DỪA NON: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG ĐẤT VÀ CẢI THIỆN ĐỘ PHÌ ĐẤT TẠI PHÚ QUỐC
Trong bối cảnh sản xuất nông nghiệp theo hướng bền vững và thích ứng với biến đổi khí hậu, việc khai thác hiệu quả diện tích đất trong giai đoạn kiến thiết cơ bản của các vườn cây lâu năm đang được nhiều nhà khoa học quan tâm. Mới đây, nhóm nghiên cứu của Trường Đại học Nông Lâm, Đại học Huế, Viện Nghiên cứu Dầu và Cây có dầu Việt Nam đã công bố kết quả nghiên cứu về mô hình trồng xen lạc trong vườn dừa Dứa non tại Phú Quốc (tỉnh An Giang), mở ra hướng canh tác mang lại hiệu quả kinh tế và sinh thái cao.
Dừa là cây trồng chủ lực ở nhiều vùng nhiệt đới, tuy nhiên trong những năm đầu sau khi trồng, bộ rễ và tán cây chưa phát triển hoàn toàn nên phần lớn diện tích đất chưa được khai thác hiệu quả. Với khoảng cách trồng phổ biến, chỉ khoảng 22% diện tích đất được bộ rễ dừa sử dụng, trong khi gần 75% diện tích còn lại vẫn còn khả năng canh tác. Đây là điều kiện thuận lợi để bố trí các cây trồng xen ngắn ngày nhằm tăng thu nhập, hạn chế cỏ dại, cải thiện đất và nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên.
Xuất phát từ thực tiễn đó, nhóm nghiên cứu đã tiến hành thí nghiệm tại vườn dừa Dứa hai năm tuổi ở Phú Quốc trong giai đoạn 2024–2025. Thí nghiệm được bố trí theo khối ngẫu nhiên đầy đủ với bốn nghiệm thức gồm: không trồng xen; trồng xen 15 hàng lạc (chiếm khoảng 45% diện tích có thể trồng xen); 20 hàng lạc (60% diện tích); và 25 hàng lạc (75% diện tích). Giống lạc sử dụng là VD01-1 – giống có khả năng thích nghi tốt trên đất cát và đất pha cát. Nghiên cứu đồng thời đánh giá sinh trưởng, năng suất lạc, sinh trưởng của cây dừa cũng như những thay đổi về tính chất đất và hàm lượng dinh dưỡng sau khi trồng xen.
Kết quả cho thấy giống lạc VD01-1 sinh trưởng tốt trong điều kiện sinh thái của Phú Quốc. Trong các mật độ khảo nghiệm, nghiệm thức trồng xen 20 hàng lạc đạt hiệu quả vượt trội nhất. Mật độ này cho số quả chắc trên cây cao nhất, khối lượng quả khô lớn hơn, tỷ lệ nhân và tỷ lệ hạt chắc cao hơn các nghiệm thức còn lại. Đặc biệt, năng suất lạc khô đạt khoảng 3,43 tấn/ha, cao hơn so với trồng 15 hàng và 25 hàng, cho thấy mật độ trung bình đã tạo được sự cân bằng giữa khả năng khai thác ánh sáng, dinh dưỡng và không gian sinh trưởng của cây lạc.
Một kết quả quan trọng khác là việc trồng xen lạc hoàn toàn không ảnh hưởng tiêu cực đến sinh trưởng của cây dừa non. Các chỉ tiêu như chu vi thân, số lá, chiều dài lá, số lá chét và kích thước lá giữa các nghiệm thức không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê. Điều này chứng minh rằng cây lạc không tạo ra sự cạnh tranh đáng kể về dinh dưỡng và nước đối với cây dừa trong giai đoạn kiến thiết cơ bản, đồng thời vẫn tận dụng hiệu quả khoảng không gian và ánh sáng còn dư thừa trong vườn dừa.

Mô hình trồng xen lạc trong vườn dừa tại Phú Quốc, An Giang
Không chỉ mang lại năng suất, mô hình trồng xen còn góp phần cải thiện đáng kể chất lượng đất. Sau thời gian canh tác, đất ở các nghiệm thức trồng xen có hàm lượng chất hữu cơ, độ xốp, khả năng trao đổi cation (CEC), độ ẩm và mật độ vi sinh vật cố định đạm đều tăng lên rõ rệt. Trong đó, nghiệm thức 20 hàng lạc đạt các giá trị cao nhất về hàm lượng đạm và lân dễ tiêu, đồng thời có mật độ vi sinh vật cố định đạm lớn nhất. Riêng hàm lượng kali dễ tiêu đạt cao nhất ở nghiệm thức 25 hàng lạc. Những kết quả này khẳng định vai trò của cây họ đậu trong việc bổ sung nguồn đạm sinh học, cải thiện độ phì đất và góp phần giảm nhu cầu sử dụng phân bón hóa học trong các hệ thống canh tác lâu năm.
Trên cơ sở các kết quả nghiên cứu, nhóm tác giả đề xuất mật độ trồng xen 20 hàng lạc, tương ứng khoảng 60% diện tích có thể trồng xen trong vườn dừa non, là phương án tối ưu. Mật độ này vừa đảm bảo năng suất và chất lượng lạc cao, vừa cải thiện tính chất đất, tăng cường hoạt động của hệ vi sinh vật có ích, nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên đất và không ảnh hưởng đến sự sinh trưởng của cây dừa.
Nghiên cứu không chỉ cung cấp cơ sở khoa học cho việc phát triển mô hình trồng xen lạc trong vườn dừa tại Phú Quốc mà còn có thể áp dụng cho nhiều vùng trồng dừa khác có điều kiện sinh thái tương tự ở Việt Nam. Trong bối cảnh phát triển nông nghiệp theo hướng xanh, tuần hoàn và bền vững, mô hình này được kỳ vọng sẽ góp phần đa dạng hóa sản phẩm, tăng thu nhập cho người sản xuất, cải thiện sức khỏe đất và nâng cao hiệu quả kinh tế trên cùng đơn vị diện tích canh tác.
Nguyễn Thị Huyền Trang biên soạn
Tài liệu tham khảo:
Theo Indian Journal of Agricultural Research. 60(3): 383-390
https://arccjournals.com/journal/indian-journal-of-agricultural-research/AF-982
Số lần xem: 5















