GIỚI THIỆU CÂY LÚA MIẾN NGỌT
Phân loại khoa học
|
Giới: |
Plantae |
|
Không phân hạng: |
Angiosperms |
|
Bộ: |
Poales |
|
Họ: |
Poaceae |
|
Tông: |
Andropogoneae |
|
Tộc phụ: |
Sorghinae |
|
Chi: |
Sorghum moench |
|
Chi phụ: |
Sorghum |
|
Loài: |
Sorghum bicolor |

Hình ảnh bông Lúa Miến
Yêu cầu điều kiện sinh thái cây lúa miến ngọt
Vĩ độ: 400B - 400N. Độ cao so với mặt nước biển: lúa miến ngọt có thể tìm thấy ở độ cao từ mực nước biển đến 1500m và các loài chịu lạnh có thể sinh trưởng ở độ cao 1600 đến 2500m. Nhiệt độ: có thể sinh trưởng từ 15 – 450C và thích hợp ở 23 – 400C. Độ dài ngày: 10 – 14 giờ. Lượng mưa Thích hợp 800 – 1200 mm, ẩm độ 50%. Bức xạ: lúa miến ngọt là thực vật C4 nên bức xạ cao sử dụng hiệu quả. Quang kỳ: hầu hết các giống lúa miến ngọt lai rất nhạy cảm với quang kỳ. Đất: thịt đỏ hoặc đen với pH 6,5 – 7,5, OM > 0,6 %, độ sâu > 80 cm, tỷ trọng < 1,4 gcc, khả năng giữ nước > 20%, N ≥ 260kg/ha, P ≥ 12kg/ha, K ≥ 120kg/ha. Đặc điểm thích nghi: lúa miến ngọt có khả năng thích nghi rộng. Nó có tính kháng hạn, ngập lụt và mặn tốt. Nước: mặc dù lúa miến ngọt sẽ sống được với sự cung cấp ít hơn 300mm/mùa, lúa miến ngọt cần lượng nước tưới tiêu hoặc mưa từ 500 – 1000mm để đạt năng suất cao 50 – 70 tấn sinh khối. Thụ phấn: thụ phấn nhờ gió và côn trùng.
Giá trị kinh tế cây lúa miến ngọt
Cây lúa miến có nhiều mục đích sử dụng như là cây trồng làm thức ăn chính cho hàng triệu người vùng nhiệt đới bán khô hạn của châu Phi và châu Á. Hạt của nó được dùng làm thức ăn cho động vật ở Thái Lan, Australia. Ở châu Phi, thân của nó được dùng làm nhiên liệu. Cây lúa miến cũng được trồng làm cỏ tươi. Đối với loài lúa miến ngọt còn sử dụng làm xi rô. Hạt cây lúa miến được dùng làm bánh mì, bánh ngọt, bột, đường, sy rô, cồn, bia và sản xuất men.
Thân lúa miến ngọt có hàm lượng đường cao 16 – 23 % brix, là nguồn nguyên liệu tốt để sản xuất ethanol nhiên liệu. Lúa miến ngọt có 2 bộ phận sử dụng để sản xuất ethanol là hạt và thân cây. Quá trình sản xuất ethanol từ thân lúa miến ngọt như sau: thân cây được ép bởi một chuỗi máy nghiền. Kết quả thu được dịch ngọt và bã. Bã được xử lý để sản xuất enzym đồng thời hóa đường và lên men tiếp tục chưng cất, khử nước thu được ethanol và lignin, chất rắn. Dịch thu được đưa qua sàng lọc, tiệt trùng bằng cách đốt nóng lên đến 1000C, sau đó được lọc sạch bằng cách đưa qua máy lọc chân không. Sau đó dịch được cho bay hơi để cô đặc (xi rô). Dịch cũng có thể cho lên men. Xi rô cần để cất giữ phải cô đặc để đạt tối thiểu 650 brix (thông thường 850 brix). Quá trình lên men dựa vào hóa học, sinh hóa và vi sinh học. Dịch ép hay xi rô được chuyển thành ethanol nhờ men Saccharomyces cerevisiae. Công đoạn tiếp theo là chưng cất và khử nước. Trong quá trình chưng cất, cồn từ sự ủ men đã được cô đặc đến 95% và tiếp tục cô đặc ethanol đến mức 99,6% (mức tối thiểu). Quá trình sản xuất ethanol từ hạt lúa miến ngọt giống như từ hạt bắp. Hạt sau khi rửa sạch, xay nát. Nguyên liệu tinh bột được nấu thành gelatin, hóa lỏng và hóa đường sử dụng men α-amylase và glucoamylase để tạo ra glucose. Lên men, cô đặc và khử nước giống như thân lúa miến ngọt. Tuy nhiên các phụ phẩm từ hạt không giống như từ thân vì các viên khô dễ tan có hàm lượng chất dinh dưỡng cao được sử dụng cho chăn nuôi công nghiệp.
Th.S Võ Văn Quang
Số lần xem: 2















