Thông tin cập nhật

Vụ mùa 2015, những vấn đề lưu ý

Vụ mùa 2015, những vấn đề lưu ý

 
 

Vụ mùa 2015, áp lực thời vụ tuy không cao, vì lúa xuân thu hoạch sớm, tuy nhiên cần hướng dẫn bà con nông dân tuân thủ các giải pháp kỹ thuật...

 

Theo Trung tâm Dự báo Khí tượng thủy văn TƯ, từ nay đến cuối năm, hiện tượng El Nino bộc lộ rất rõ ràng và đang vào giai đoạn phát triển, dòng hải lưu nóng ở Thái Bình Dương gia tăng, nền nhiệt trung bình cao hơn trung bình năm ngoái (TBNN) từ 1 - 1,5 độ C. Lượng mưa thiếu hụt và hạn hán sẽ khốc liệt hơn ở miền Trung. Bão và áp thấp được dự báo ít hơn TBNN, tác động và ảnh hưởng chỉ 5 - 6 cơn, song có hướng di chuyển phức tạp và cường độ, cấp gió dữ dội hơn. Tất cả các dự báo này đều là những bất lợi rất lớn cho SX vụ HT, mùa. Năng suất lúa HT, mùa về tiềm năng không cao bằng vụ ĐX. Vụ này tác động của mưa, bão gây úng lụt đe dọa suốt từ đầu đến cuối vụ, kèm theo là các hệ quả gây chết lúa sau cấy khi cây chưa kịp bén rễ hồi xanh, hoặc ngay cả khi đã ra rễ và bắt đầu đẻ nhánh nếu ngập lụt kéo dài cũng sẽ làm chết úng, rễ đen, thân lá thối và phải gieo cấy lại. Việc gieo cấy lại nếu còn trong khung thời vụ thì mới có hiệu quả, nhưng bản thân sự cố này cũng sẽ làm phá vỡ cơ cấu, vỡ mùa vụ, ảnh hưởng dây chuyền tới vụ đông kế tiếp. Ở vụ mùa, mưa bão lớn làm lá lúa dễ bị rách, tổn thương và nguy cơ lây lan dịch bệnh bạc lá sẽ không tránh khỏi, thực tế với những giống lúa mẫn cảm, sau mưa, bão giai đoạn lúa chuẩn bị trổ bông, lá bị tổn thương có khi cả cánh đồng lá bạc trắng, năng suất giảm trầm trọng. Mưa bão giai đoạn trổ bông, phơi màu ngăn cản quá trình thụ phấn, kết hạt và vì lẽ đó, về tổng thể tỷ lệ lép ở vụ mùa bao giờ cũng cao hơn vụ ĐX. Cũng vì mưa, bão, nhiệt độ cao, hiệu quả phân bón ở vụ mùa thường thấp hơn vụ ĐX, phân bón dễ bị rửa trôi, song lại có nguy cơ khi bón sẽ cung cấp ồ ạt cho cây và dẫn tới mất cân đối trong quá trình hấp thụ, làm giảm sức chống chịu của cây. Những giải pháp Vụ mùa 2015, áp lực thời vụ tuy không cao, vì lúa xuân thu hoạch sớm, tuy nhiên cần hướng dẫn bà con nông dân tuân thủ các giải pháp kỹ thuật sau:

 

- Sau thu hoạch lúa xuân tranh thủ cày, lồng vận rạ càng nhanh, càng tốt, giữ nước mặt ruộng và sử dụng thêm các chế phẩm như Tricoderma, phân vi sinh đa chủng đa chức năng… bón rải mặt ruộng để xúc tiến cũng như hỗ trợ quá trình phân hủy rơm rạ, tránh hiện tượng ngộ độc hữu cơ cho lúa mùa sau cấy, nhất là với trà lúa mùa sớm. Đây cũng là giải pháp bổ sung hữu cơ cho đất, tránh đốt rơm rạ gây ngột ngạt và ô nhiễm môi trường.

 

- Vệ sinh đồng ruộng, sơn bờ, cuốc góc để hạn chế nguồn sâu bệnh trên ký chủ, kết hợp san phẳng mặt ruộng giúp cho quá trình tưới tiêu thuận lợi.

 

- Tổ thủy nông, HTX dùng nước cần chủ động sớm trong việc khơi thông mương máng, các công trình đầu khâu, vớt bèo bồng trên các trục sông tiêu, đầu các cống tiêu lớn, kiểm tra vận hành hệ thống điều khiển cống tiêu, các máy bơm tiêu úng, kể cả chuẩn bị hệ thống máy dầu dã chiến... đảm bảo tốt năng lực tưới và tiêu úng nhanh nhất. Trong bối cảnh El Nino, dự báo mưa với cường độ cao, đồng ruộng bị chia cắt bưởi các công trình giao thông, đô thị, năng lực tiêu úng bị hạn chế, việc chuẩn bị kỹ các phương án tiêu cần được các địa phương tính toán và sẵn sàng cao nhất.

 

- Về kỹ thuật: Sử dụng các giống lúa ngắn ngày; mở rộng trà mùa sớm, cực sớm để khi có nguy cơ mưa lớn gây ngập úng thì cây lúa đã ở giai đoạn đẻ nhánh rộ, lá đã vươn, tránh được khả năng ngập sâu trong nước; giai đoạn này chỉ cần thò chóp lá đã có thể không bị thiệt hại. Thực tế nhiều năm gần đây, trà cực sớm và sớm ở miền Bắc an toàn và cho năng suất cao, ổn định hơn. Chủ trương của Bộ NN-PTNT khuyến cáo các địa phương mở rộng diện tích trà này cũng để tạo thêm quỹ đất làm cây vụ đông ưa ấm, nhóm cây rau màu có giá thu hoạch cao. Một số vùng bà con nông dân để lúa chét sau thu hoạch lúa xuân, thâm canh lúa chét cho thu hoạch 100 - 130 kg/sào Bắc bộ, tương đương 3,1 - 3,3 tấn/ha, trong khi phải bỏ ra chi phí rất thấp, lãi thu được từ thâm canh lúa chét cao gấp 1,5 - 2 lần cấy lúa mùa sớm hoặc chính vụ. Cái được lớn hơn là tháng 9 bà con đã có quỹ đất để làm các cây vụ đông, rau màu ưa ấm, ngô thu đông cho năng suất và giá trị rất cao. Công thức này làm rất thành công ở Thái Bình, giá trị thu hoạch/ha cao tới 300 - 350 triệu đồng. Mặc dù một số hiệp định song phương, xuyên Thái Bình Dương (TPP) về chính sách thương mại đã và sẽ được ký kết giữa VN với các nước, nhưng bức tranh tiêu thụ nông sản của chúng ta vẫn chưa hẳn sáng màu.

 

Các mặt hàng chủ lực XK như lúa gạo, cao su, cà phê... vẫn khó tiêu thụ và giá cả duy trì ở mức thấp, vài triệu tấn gạo của Thái Lan tạm trữ luôn có nhu cầu xả hàng, ngoài ra còn áp lực cạnh tranh từ lúa gạo của Campuchia, Ấn Độ, Myanmar… Cần tuân thủ chủ trương quy hoạch vùng đối với các trà lúa, giống lúa để gắn với mùa vụ và biện pháp kỹ thuật cũng như chủ động trong các biện pháp phòng chống úng ngập. Có phương án dự phòng giống nhóm ngắn ngày đề phòng bất trắc. Hạn chế sử dụng các giống lúa mẫn cảm với bạc lá, với dự báo như vụ mùa năm nay, nguy cơ bệnh lan thành dịch rất cao. Các giống lúa chất lượng nên bố trí né vùng thường xuyên có ổ bệnh hàng năm. Các biện pháp canh tác cần được thông tin, hướng dẫn cặn kẽ cho nông dân, bệnh bạc lá cần được theo dõi chặt ở các ổ bệnh, điều tiết phân bón và phun phòng bằng một số loại thuốc khi mới chớm bệnh theo hướng dẫn của cán bộ BVTV. Hiện đã có một số tiến bộ kỹ thuật về giống có gen kháng bạc lá, một số vụ mùa gần đây đã được các Cty phối hợp với Sở NN-PTNT, Trung tâm Khuyến nông các tỉnh trình diễn khá thuyết phục, cần được mở rộng. Bón phân cho lúa vụ mùa cần tuân thủ nguyên tắc: "Nhìn cây, nhìn đất và nhìn trời"; bón lót sâu, sử dụng phân bón chậm tan và "nặng đầu, nhẹ cuối", bón NPK hỗn hợp hoặc phức hợp, cân đối đạm, lân, kali. Hạn chế bón nuôi đòng bằng đạm ure, nhất là với các giống lúa chất lượng mẫn cảm với bạc lá để lá công năng không bị hư hại, bổ sung các chất trung, vi lượng, đặc biệt silic dạng nano dễ tiêu để tăng cường sức chống chỡ, ngăn cản xâm nhập của nấm và vi khuẩn vào mô cây. - Theo dõi chặt chẽ diễn biến sâu bệnh hại mưa bão. Phương châm dùng nước cho lúa vụ HT, mùa là “Rút cạn lòng sông, tưới nông mặt ruộng”, luôn đề phòng và chủ động tiêu úng là chính, ông cha ta cũng đã đúc rút kinh nghiệm “Chiêm chết khô, mùa chết úng” là vậy. Thực tế cho thấy, mặc dù đối mặt với nhiều bất lợi nhưng nếu chúng ta chủ động, tiên lượng được tình hình, vào cuộc chỉ đạo sớm, quyết liệt vụ lúa mùa vẫn có thể giành thắng lợi.

Th.S Trần Xuân Định (Phó Cục trưởng Cục Trồng trọt)

 

Chi tiết
Thích ứng cây trồng trước biến đổi khí hậu

Thích ứng cây trồng trước biến đổi khí hậu

Biến đổi khí hậu (BĐKH) đang diễn ra ngày càng khốc liệt, đe dọa an ninh lương thực và có tác động toàn diện đến sự phát triển bền vững của đất nước. Để ứng phó, giảm nhẹ tác động tiêu cực của BĐKH lên sản xuất nông nghiệp, thích ứng cho cây trồng là biện pháp, hướng mở có ý nghĩa rất quan trọng và hiệu quả.

Chi tiết
Tăng thuế xuất khẩu sắn lát, tất cả đều méo mặt.

Tăng thuế xuất khẩu sắn lát, tất cả đều méo mặt.

Thông tư 63/2015/TT-BTC của Bộ Tài chính mới ban hành, các DN kinh doanh XK mặt hàng mì lát (sắn lát) lập tức “xây xẩm” vì mức thuế suất từ 0% tăng lên 5%.

Gánh nặng này không chỉ đè trên vai các DN chuyên XK mặt hàng mì lát mà còn làm oằn lưng nông dân trực tiếp SX. Việc tăng thuế XK mì lát đã được Bộ Tài chính dự tính từ đầu tháng 3/2015 dựa trên những kiến nghị của Hiệp hội Nhiên liệu sinh học Việt Nam. Mục tiêu là nhằm hỗ trợ, đảm bảo nguồn nguyên liệu cho SX cồn ethanol, nguyên liệu chính để pha chế xăng sinh học (E5, E10). 

Chi tiết
Nhu cầu tăng, giá phân bón tăng nhẹ

Nhu cầu tăng, giá phân bón tăng nhẹ

Khoảng một tháng qua, giá phân bón tại nhiều khu vực ĐBSCL và Tây nguyên tăng giá nhanh và có dấu hiệu thiếu hàng cục bộ với mức tăng tới gần 1.000 đồng/kg.

Chi tiết
Cơ hội mới cho ngành điều

Cơ hội mới cho ngành điều

Nhu cầu hạt điều đang cao hơn nguồn  cung, vì thế cây điều đang có lợi thế cạnh tranh khi giá bán đi lên và nông dân sản xuất ra bao nhiêu đều tiêu thụ hết ngay.

Đoàn công tác của Hiệp hội Điều VN (Vinacas) do Chủ tịch Nguyễn Đức Thanh dẫn đầu, vừa có buổi làm việc với Ban Chỉ đạo phát triển điều Bình Phước về cơ hội mới của ngành, cũng như giải pháp phối hợp quản lý VSATTP và thúc đẩy ghép cải tạo vườn điều…

  

  

Chi tiết
Vùi rơm rạ - những điều cần biết.

Vùi rơm rạ - những điều cần biết.

Ở ruộng ngập nước, làm lúa HT, nếu không có điều kiện tháo cạn phơi ruộng thì tốt nhất là đem hết rơm rạ ra khỏi ruộng.

Các nhà khoa học thường kêu gọi người SX nông nghiệp cần phải trả lại chất hữu cơ cho đất. Lý lẽ chủ yếu là nếu lâu ngày không bón chất hữu cơ cho đất thì đất sẽ ngày càng xấu đi… Cần trả lại hữu cơ cho đất Nếu nói theo ngôn ngữ khoa học thì đất sẽ bị suy thoái biểu hiện rõ cả về tính chất vật lý và cả thành phần hóa học. Đất bị suy thoái thì tính chất vật lý ngày càng kém biểu hiện lên kết cấu bị nén chặt hay quá rời rạc, dung trọng bị thay đổi, khả năng giữ ẩm, giữ nước, giữ phân kém. Bên cạnh đó, màu sắc đất cũng ngày càng bị xám bạc, độ chua tăng lên, chất hữu cơ ngày càng giảm, dẫn đến chất dinh dưỡng trong đất bị cạn kiệt. Hậu quả là năng suất cây trồng sẽ suy giảm. Trên các nền đất bị thoái hóa dù có đầu tư thêm nhiều phân hóa học thì hiệu quả sử dụng phân cũng sẽ bị kém đi. Do đó năng suất lúa, hoa màu trên đất xám bạc màu hay đất cát ven biển dù có bón đến 200 kg N/ha (khoảng 435 kg urê) thì cũng không bằng bón 80 - 100 kg N trên đất phù sa. Từ tình trạng thực tế như vậy nên đã có nhiều người cho rằng bón phân hóa học khiến chai đất, làm cho đất xấu đi, mà không thấy điều cốt lõi là do người trồng cây không chú ý trả lại chất hữu cơ cho đất là yếu tố quyết định.

Lý do phải bón đơn thuần phân hóa học một phần do nguồn phân hữu cơ khan hiếm, nếu có thì mang vác tốn công, thao tác kềnh càng, trong lúc đó bón phân hóa học tiện lợi nhiều mặt nên thiếu sự kết hợp hài hòa của hai chủng loại phân này khi gieo cấy. Nếu chúng ta chịu khó tìm hiểu những nông dân trồng cà phê ở Tây Nguyên thì sẽ giảm bớt ác cảm với phân hóa học. Mặc dù nông dân trồng cà phê ở Tây Nguyên ngày càng dùng nhiều phân hóa học, nhưng họ lại biết tận dụng chất hữu cơ trả lại cho đất thông qua kỹ thuật ép tàn dư thực vật vào vườn cà phê, phủ luống cho cà phê, bón thêm phân chuồng cho cà phê ước tính bình quân các loại khoảng 8 - 10 tấn/ha/năm. Do đó hàng năm bình quân các tỉnh Tây Nguyên đã sử dụng gần 3 tấn phân hóa học các loại/ha cà phê mà đất trồng cà phê vẫn không bị suy thoái, năng suất cà phê năm sau vẫn cao hơn năm trước. Xin được dẫn ra số liệu điều tra của Tôn Nữ Tuấn Nam nêu trong báo cáo “Kết quả nghiên cứu các giải pháp khoa học - công nghệ và kinh tế- xã hội ở Tây Nguyên” thì rõ. Báo cáo nêu rằng bình quân phân hóa học đã bón cho cà phê trên 4 tỉnh Tây Nguyên là 416 kg N (tương đương với 904 kg phân urê/ha), 248 kg P205 (tương đương với 1.550 kg super lân) và 239 kg K20 (tương đương với 398 kg phân KCL/ha). Tổng cộng 3 chủng loại phân hóa học này lại đã được con số 2.852 kg/ha/năm. Nếu so sánh số phân đã bón cho lúa và ngô cũng như các cây hoa màu khác thì còn kém xa số phân đã bón cho cà phê. Nói như vậy không có nghĩa là cứ khuyến khích bón nhiều phân hóa học cho cây trồng, mà chỉ để làm rõ thêm ý nghĩa phối hợp phân hữu cơ các loại một cách hợp lý thì dù có bón phân hóa học với liều lượng cao thì cũng không phải là thủ phạm làm chai đất hay làm xấu đất như có người từng nghĩ. Chú ý khi vùi rơm rạ Tuy vậy ta cũng cần chú ý rằng, nếu không có phân hữu cơ hoai mục để bón mà phải vùi xác cây phân xanh hay rơm rạ tươi thì chỉ thực hiện trên đất trồng màu hay đất lúa nước nhưng được tháo cạn phơi ruộng mới an toàn và có hiệu quả. Trường hợp cần thiết phải vùi rơm rạ tươi thì phải cày lật đất ngay, sau 1 tháng mới gieo sạ, chú ý bón thêm vôi, bón lượng lân nhiều hơn bình thường, và khi lúa mọc được 15, 30 ngày cần tháo nước phơi ruộng khoảng 5 - 7 ngày thì mới có thể đạt được năng suất lúa cao và ổn định. Kết quả vùi rơm rạ (miền Bắc gọi là cày vặn rạ) hay vùi các loại cây phân xanh đã được các nhà Nông hóa của Viện Nông hóa thổ nhưỡng nghiên cứu trên nhiều loại đất ở miền Bắc từ trước ngày giải phóng miền Nam. Kết quả nghiên cứu đã khuyến cáo rằng, vùi rơm rạ tươi hay phân xanh trên đất màu thì không gây độc cho cây. Nhưng trên đất ngập nước liên tục mà thời gian vùi ngắn thì rất dễ gây ngộ độc cho cây. Gần đây Vũ Tiến Khang và cộng sự (2005) và Nguyễn Thành Hối (2008) cũng một lần nữa chứng minh rằng nếu vùi rơm rạ tươi trong đất ngập nước liên tục, do điều kiện yếm khí nên tiến trình phân giải diễn ra rất chậm. Vùi đến 90 ngày mà vẫn còn 37% số rơm rạ chưa được phân giải. Trong thực tế tỷ lệ 63% số rơm rạ được gọi là đã phân giải cũng chỉ ở trong giai đọan bán phân giải. Do trong quá trình phân giải rơm rạ tươi đã sản sinh ra nhiều độc tố như H2S, CH4, C2H4, các axit hữu cơ bay hơi và không bay hơi khá nhiều nên đã gây độc cho rễ lúa, làm cản trở quá trình sinh trưởng và phát triển của cây, lá và làm cho một phần rễ lúa bị chết, tỷ lệ nhánh hữu hiệu thấp, tỷ lệ lép cao, dẫn đến năng suất lúa thấp hơn ruộng lấy hết rơm rạ ra khỏi ruộng lúa khoảng 40% (thí nghiệm trong chậu) và khoảng 17 - 20% (thí nghiệm ngoài đồng). Trong lúc đó nếu vùi rơm rạ tươi trong vụ HT nhưng sau sạ lúa 15 ngày, hoặc 30 ngày có tháo cạn phơi ruộng khoảng 5 ngày thì về sau lúa phục hồi khá nhanh và năng suất cao hơn ruộng để nước nông thường xuyên khoảng 19%. Vì vậy, ở ruộng ngập nước, làm lúa HT, nếu không có điều kiện tháo cạn phơi ruộng thì tốt nhất là đem hết rơm rạ ra khỏi ruộng, hoặc có thể buộc phải đốt rơm rạ thì nên rải đều và đốt triệt để rồi cày đất ngâm ruộng khoảng 1 tháng mới gieo sạ lúa.

GS. MAI VĂN QUYỀN

Chi tiết
Doanh nghiệp chọn mua tiêu sọ của Đồng Nai để xuất khẩu

Doanh nghiệp chọn mua tiêu sọ của Đồng Nai để xuất khẩu

Doanh nghiệp chọn mua tiêu sọ của Đồng Nai để xuất khẩu

Theo Cục Thống kê Đồng Nai, trong 5 tháng đầu năm 2015, toàn tỉnh xuất khẩu trên 3.200 tấn hạt tiêu, đạt kim ngạch xuất khẩu hơn 31 triệu USD, tăng 18% về lượng và 50% về giá so với cùng kỳ năm trước. Giá hạt tiêu xuất khẩu bình quân gần 9.700 USD/tấn (khoảng 203 triệu đồng/tấn).

 

Chi tiết
Chuyên mục Cánh đồng lớn đã phát huy

Chuyên mục Cánh đồng lớn đã phát huy

Chúng tôi đã có cuộc trò chuyện với ông Nguyễn Hữu An, Chi cục trưởng Chi cục BVTV An Giang - người khởi xướng mở Chuyên mục Cánh đồng lớn (CĐL) trên NNVN ra thứ 6 hằng tuần

16-29-39_ong-nguyen-huu-n-chi-cuc-truong-chi-cuc-bvtv-n-ging

Ông Nguyễn Hữu An, Chi cục trưởng Chi cục BVTV An Giang.

 

Chi tiết
Người nông dân Việt Nam sẽ không còn thiệt thòi

Người nông dân Việt Nam sẽ không còn thiệt thòi

Tôi mong ước 20 năm nữa, tiếng nói của người nông dân được cải thiện, cuộc sống của họ được nâng cao, sản phẩm họ làm ra có nơi tiêu thụ đảm bảo.

Chi tiết
'Cha đẻ' máy tách vỏ đậu

'Cha đẻ' máy tách vỏ đậu

Hạt đậu được tách bằng máy đạt độ sạch tối đa. Máy còn có độ an toàn tuyệt đối khi sử dụng với hệ thống ngắt điện tự động khi có sự cố hoặc quá tải

Cha đẻ máy tách vỏ đậu

Ông Biền bên chiếc máy tách vỏ đậu

 

Chi tiết
100% đậu tương nhập ngoại là biến đổi gen

100% đậu tương nhập ngoại là biến đổi gen

Việt Nam đang phải nhập khẩu tới 93% đậu tương và chỉ có 7% là hàng sản xuất trong nước. 100% số đậu tương nhập khẩu là sản phẩm biến đổi gen. Rất có thể, miếng đậu phụ, cốc sữa đậu nành chúng ta uống hàng ngày được làm từ đậu tương biến đổi gen.

Đó là tiết lộ của ông Lê Huy Hàm, Viện trưởng Viện di truyền nông nghiệp Việt Nam tại hội nghị Triển vọng về cây trồng biến đổi gen 2014, diễn ra ngày 3/2.

Ông Hàm khẳng định, cây trồng biến đổi gen đang là cơ hội giúp người nông dân tăng năng suất, xoá đói giảm. Và ở Việt Nam, chúng ta đã chấp nhận đưa ba giống biến đổi gen là ngô, bông và đậu tương vào sản xuất.

Tuy nhiên, trả lời về vấn đề người dân khó có thể chấp nhận sản phẩm biến đổi, ông Lê Huy Hàm cho biết: "Đậu tương chúng ta nhập đến 93% nhu cầu, chỉ có 7% là sản xuất trong nước. 100% đậu tương này là sản phẩm biến đổi gen và chúng ta đã nhập từ những năm 2000 cho đến nay".

biến-đổi-gen, ngô, nhập-khẩu, sản-phẩm-biến-đổi-gen, dán-nhãn, ISAAA

Đậu tương biến đổi gen bán ở VN

Bên cạnh đó, ông cũng cho hay, mặc dù một lượng lớn sản phẩm biến đổi gen được lưu hành trong nước song tại Việt Nam, các doanh nghiệp cung cấp vẫn chưa tiến hành dán mác thông báo sản phẩm để người tiêu dùng nhận diện và lựa chọn.

Đây là vấn đề đã gây tranh cãi trong suốt thời gian qua. Việt Nam đã nhiều lần thảo luận quy chế dán nhãn nhưng chưa thể ban hành.

 
 

Theo quy định ở châu Âu, lượng biến đổi gen 1% hàm lượng trở lên phải dán nhãn, còn ở châu Á, lượng biến đổi gen phải dán nhãn trên 5%.

"Muốn có sản phẩm dán nhãn biến đổi gen, Việt Nam phải có quy trình kiểm nghiệm và tốn khá nhiều chi phí. Các chi phí này sẽ được tính vào giá thành sản phẩm. Và nếu được thực hiện, thì giá thành sẽ tăng lên khoảng 10-12%. Như vậy người tiêu dùng sẽ phải gánh thêm chi phí này", ông Hàm nói.

Theo báo cáo của Tổ chức quốc tế về tiếp thu các ứng dụng công nghệ sinh học trong nông nghiệp (ISAAA), năm 2014, có khoảng 181 triệu ha cây trồng công nghê sinh học được canh tác trên toàn cầu, tăng hơn 6 triệu ha so với năm 2013. Tính đến nay, có tổng cộng 28 quốc gia canh tác cây trồng công nghệ sinh học.

"Tổng luỹ kế diện tích canh tác các loại cây trồng công nghệ sinh học trong giai đoạn 1996-2014 nhiều hơn 80% tổng diện tích đất của Trung Quốc. Và tổng diện tích toàn cầu đã tăng hơn 100 lần so với những năm đầu tiên canh tác cây trồng công nghệ sinh học", TS Clive James, chủ tịch ISAAA cho hay.

Theo Bảo Hân, nguồn Vietnamnet

Chi tiết
Thành công bước đầu mô hình trồng nấm rơm trong nhà

Thành công bước đầu mô hình trồng nấm rơm trong nhà

Với bản tính kiên trì, chịu khó tìm hiểu, nghiên cứu ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, sáng tạo trong sản xuất,… vợ chồng anh Lê Công Tâm và chị Lượng Thị Hạnh (ngụ khóm 5, thị trấn Lai Vung), bước đầu thành công với mô hình trồng nấm rơm trong nhà. Mô hình này ở huyện Lai Vung - Đồng Tháp chỉ có 1 vài hộ thực hiện nhưng chưa có hộ nào thành công.

Chi tiết
2014, Việt Nam nhập khẩu gần 5 tỷ USD thức ăn chăn nuôi

2014, Việt Nam nhập khẩu gần 5 tỷ USD thức ăn chăn nuôi

VTV.vn - Mặc dù cả nước có tới hơn 200 DN sản xuất thức ăn chăn nuôi công nghiệp, Việt Nam vẫn phải chi gần 4,87 tỷ USD để nhập hơn 11 triệu tấn thức ăn chăn nuôi trong năm 2014.

Chi tiết
Bình Định: Tê liệt vì nắng nóng

Bình Định: Tê liệt vì nắng nóng

Vụ hè thu 2015 ở Bình Định được khởi động trong cái nắng như thiêu như đốt. Cây lúa vừa kịp đóng chông đã phải chịu khát.

Ông Phan Trọng Hổ, GĐ Sở NN-PTNT Bình Định, lắc đầu ngao ngán: “Theo kế hoạch, vụ hè thu này tỉnh Bình Định sẽ gieo sạ 42.300 ha lúa, đến nay đã xuống giống được 40.000 ha. Cây lúa mới đóng chông đã gặp nắng nóng gay gắt, nông dân ngóng mưa từng ngày, hy vọng vào tiết Tiểu Mãn mà chỉ thấy mưa rào xảy ra cục bộ vài nơi ở TP Quy Nhơn và huyện Tuy Phước. Mọi hoạt động trong ngành nông nghiệp gần như đình trệ”. Theo ông Hổ, hiện lượng nước trong các hồ chứa lớn ở Bình Định chỉ còn trữ được dưới 50% so dung tích thiết kế. Các hồ chứa nhỏ do các địa phương quản lý còn thê thảm hơn, gần như đang trơ đáy, những diện tích lúa hè thu ăn nước của các hồ này chưa biết sẽ đi về đâu. Sông suối cũng đã cạn kiệt, mạch nước ngầm cũng tuột trầm trọng. Diện tích lúa đang đứng trước nguy cơ bị thiếu nước tưới trong tháng 6 này có thể lên đến 15.000 ha. Những địa phương bị thiếu nước nghiêm trọng nhất là huyện Phù Cát với 7.000 ha, Phù Mỹ 5.000 ha, còn lại 3.000 ha thuộc các huyện Vân Canh, Vĩnh Thạnh, Hoài Nhơn, Hoài Ân. Trong thời tiết nắng nóng như thế này, cả cây trồng lẫn vật nuôi đều chẳng thể phát triển. Đến cả tôm nuôi dưới nước cũng chẳng thể chịu nổi cái nắng nóng, phát sinh dịch bệnh chết tràn lan, hiện đã có đến 12 ha diện tích tôm nuôi bị khai tử

Theo ĐÌNH THUNG, nguồn NongNghiep.vn

Chi tiết
Bình Phước: Hạn hán gây hại hơn 50 tỷ đồng

Bình Phước: Hạn hán gây hại hơn 50 tỷ đồng

Tính đến nay, Bình Phước đã trải qua 4 tháng hạn nặng. Những ngày qua, đã có một vài trận mưa nhỏ, nhưng chẳng thấm vào đâu

Tại các huyện Bù Đốp, Bù Gia Mập, Đồng Phú, TX Đồng Xoài, thời điểm này hầu hết các giếng đào đã cạn nước, giếng khoan chỉ ưu tiên dùng cho việc ăn uống, mọi sinh hoạt như tắm, giặt, người dân địa phương phải nhờ đến hồ, sông, suối. Để có nước sinh hoạt, nhiều hộ dân phải mua nước từ các xe bồn với giá từ 40.000 - 70.000 đồng/m3, trong khi nước máy chỉ có giá 4.800 đồng/m3. Theo thống kê của Sở NN-PTNT tỉnh Bình Phước, hạn hán đã làm thiệt hại 36.000ha cây trồng, trong đó phần lớn là lúa, bắp, rau, đậu... Ước thiệt hại của ngành nông nghiệp lên đến hơn 50 tỷ đồng

Theo HỒNG THỦY, nguồn NongNghiep.vn

Chi tiết
Thông tin cập nhật trang 15 Thông tin cập nhật trang 15

10/ 10 - 3308 phiếu bầu
Trung tâm Nghiên cứu Thực nghiệm Nông nghiệp Hưng Lộc
Địa Chỉ: Xã Hưng Thịnh, Huyện Trảng Bom, Đồng Nai
Ðiện Thoại: (0251) 3678839; 3868279; 3868146
Fax: (0251) 3868632
Email: trungtamhungloc.harc@gmail.com
 
Online Trực tuyến :  6
Online Hôm nay:  428
Online Hôm qua:  2468
Online Tất cả:  3381683
Sản phẩm đã được thêm vào giỏ hàng
Tiếp tục mua hàng
Xem giỏ hàng