Thông tin cập nhật

Tái cơ cấu ngành nông nghiệp vùng ĐBSCL: “Tạo ra chuyển biến tích cực về nhận thức…”

Tái cơ cấu ngành nông nghiệp vùng ĐBSCL: “Tạo ra chuyển biến tích cực về nhận thức…”

Ngày 11.7, BCĐ Liên ngành về tái cơ cấu ngành nông nghiệp Quốc gia đã tổ chức Hội nghị sơ kết 2 năm thực hiện tái cơ cấu ngành nông nghiệp vùng ĐBSCL.

Sản phẩm ớt, một trong 5 mặt hàng chủ lực của tỉnh Đồng Tháp

 

Chi tiết
Tăng thuế xuất khẩu mặt hàng sắn lên 5%

Tăng thuế xuất khẩu mặt hàng sắn lên 5%

 

(TBTCO) – Bộ Tài chính vừa ban hành Thông tư số 63/2015/TT-BTC sửa đổi mức thuế suất thuế xuất khẩu đối với mặt hàng sắn thuộc nhóm 07.14 tại Biểu thuế xuất khẩu ban hành kèm theo Thông tư số 164/2013/TT-BTC ngày 15/11/2013 của Bộ trưởng Bộ Tài chính.

Chi tiết
50 tỷ đồng chuyển giao bản quyền giống ngô

50 tỷ đồng chuyển giao bản quyền giống ngô

Ngày 24/6, Viện Nghiên cứu ngô đã 4 ký hợp đồng chuyển giao và chuyển nhượng quyền phân phối 4 giống ngô do Viện Nghiên cứu cho một số DN.

Với tổng giá trị chuyển giao - chuyển nhượng gần 50 tỷ đồng, sự kiện này tiếp tục khẳng định hiệu quả, vị thế của Viện về nghiên cứu giống ngô trong bối cảnh gặp nhiều khó khăn thách thức. 4 hợp đồng chuyển giao bản quyền, chuyển nhượng quyền phân phối một số giống ngô lai mới của Viện bao gồm: Chuyển giao bản quyền giống ngô lai LVN 102 cho Cty CP Bảo vệ thực vật TW 1 với giá trị 4,2 tỷ đồng; Chuyển nhượng quyền phân phối và đặt hàng SX giống ngô lai A 380 cho Cty CP Đại Thành với lượng hạt giống 520 tấn, tổng giá trị hợp đồng là 25 tỷ đồng; Chuyển nhượng quyền phân phối và đặt hàng SX giống ngô lai HT 119 cho Cty CP Vật tư kỹ thuật nông nghiệp Bắc Giang với khối lượng hạt giống 350 tấn, tổng giá trị hợp đồng 17 tỷ đồng; Chuyển nhượng quyền phân phối và đặt hàng SX giống ngô lai LVN 111 cho Cty CP Bảo vệ thực vật TW 1 với khối lượng hạt giống 30 tấn, tổng giá trị hợp đồng là 2 tỷ đồng. Tổng giá trị 4 hợp đồng được ký kết là 48,2 tỷ đồng. Ngoài 4 hợp đồng chuyển giao bản quyền và chuyển nhượng quyền phân phối, Viện Nghiên cứu ngô cũng đã ký biên bản ghi nhớ về hợp tác phát triển 2 giống ngô gồm LVN 883 và VN 556 với Cty CP Bảo vệ thực vật TW 1. Tại lễ ký kết, TS Bùi Mạnh Cường, Viện trưởng Viện Nghiên cứu ngô tiết lộ: "Tháng 11/2015 tới đây, Viện sẽ ký thêm một hợp đồng chuyển giao bản quyền giống ngô cho Cty CP Giống cây trồng miền Nam (SSC). Với tổng sản lượng giống mang thương hiệu Việt Nam từ 6.000 - 7.000 tấn/năm, sản phẩm nghiên cứu của Viện Nghiên cứu ngô hiện đã chiếm 30 - 35% thị phần giống ngô cả nước và đang tiếp tục chiếm lĩnh thị phần. Nếu hợp tác giữa Viện và SSC thành công trong năm 2015 thì đây sẽ là lần đầu tiên qua 4 thế hệ lãnh đạo, Viện Nghiên cứu ngô mới chính thức có sản phẩm giống ngô được SSC “nhòm ngó”, một DN lớn trong ngành giống". Theo ông Trần Xuân Định, Phó Cục trưởng Cục Trồng trọt, cùng với gần chục bản quyền giống và các tiến bộ kỹ thuật đã được các DN tiếp nhận và phân phối trước đây, 5 sự kiện chuyển giao, hợp tác SX giống ngô vừa được ký kết đã đưa Viện Nghiên cứu ngô trở thành đơn vị khoa học trong ngành giống có số lượng sản phẩm nghiên cứu được chuyển giao bản quyền đưa ra SX lớn nhất hiện nay. “Với chủ trương siết chặt công nhận giống của Bộ NN-PTNT, việc Viện Nghiên cứu ngô liên tiếp đưa ra nhiều giống mới, được DN đón nhận ký bản quyền cho thấy nỗ lực và hiệu quả nghiên cứu của Viện đang được thực tiễn chấp nhận”, ông Định đánh giá. Đồng tình với nhận xét này, bà Nguyễn Thị Thanh Thủy, Vụ trưởng Vụ KH-CN&MT (Bộ NN-PTNT) cho rằng, trong bối cảnh Việt Nam sẽ tham gia nhiều hiệp định tự do thương mại quốc tế sắp tới, ngành giống nói chung, đặc biệt giống ngô sẽ chịu áp lực cạnh tranh khốc liệt hơn nữa bởi các tập đoàn SX giống ngô đa quốc gia, mà trước mắt là các giống ngô chuyển gen đã được đưa vào SX. Trong bối cảnh đó, Viện Nghiên cứu ngô tạo được niềm tin, cùng thống nhất ý tưởng và có sự tham gia ngay từ đầu của các DN là một hướng vô cùng quan trọng để từng bước trụ vững, tự chủ nguồn giống ngô trong nước. Cũng theo bà Thủy, từ năm 2016, các Viện nghiên cứu công lập sẽ bắt đầu chuyển sang cơ chế tự chủ, vì vậy thành quả của Viện Nghiên cứu ngô sẽ là tiền đề vững chắc cho các giai đoạn tới. Cùng với giống ngô lai, sắp tới, Viện Nghiên cứu ngô sẽ thành lập thêm một số bộ môn nghiên cứu mới phù hợp hơn với chiến lược phát triển cũng như điều chỉnh lại hướng nghiên cứu để hình thành các nhóm sản phẩm mới có tính đột phá. Theo đó, Viện sẽ thành lập thêm 4 bộ môn mới gồm: Công nghệ gen, Thức ăn gia súc, Ngô thực phẩm và Chọn tạo dòng công nghệ cao. Với bộ môn Công nghệ gen, mục tiêu sẽ cho ra được nhóm sản phẩm nhóm ngô chuyển gen. Với cây thức ăn gia súc, hiện Cty sữa Cô gái Hà Lan đã đặt hàng cho Viện 200 nghìn USD để chọn ra một giống thức ăn xanh cho bò sữa. Ngoài ra viện sẽ hướng tới SX giống cao lương. Hiện SSC đã đặt hàng Viện một giống cao lương có năng suất đạt yêu cầu và độ đường đạt 6 - 9% sẽ bỏ tiền mua bản quyền. (TS. Bùi Mạnh Cường, Viện trưởng Viện Nghiên cứu ngô).

Nguồn NongNghiep.vn

Chi tiết
Than sinh học tăng năng suất đậu phụng.

Than sinh học tăng năng suất đậu phụng.

Than sinh học (Biochar) không những làm tăng năng suất cây đậu phụng trên đất cát mà còn giữ ẩm, giữ phân bón, giữ nguồn vi sinh sinh vật có lợi trong đất

Than sinh học tăng năng suất đậu phụng

Dùng chế phẩm Biochar nâng cao năng suất đậu phụng

 

Chi tiết
“Triệu phú” nấm bào ngư ở miền Tây

“Triệu phú” nấm bào ngư ở miền Tây

KTNT - Nhờ chuyển đổi từ trồng lúa sang trồng nấm bào ngư, anh Bùi Văn U, ngụ ấp Phú Lợi A, xã Phú Thuận B (Hồng Ngự - Đồng Tháp) thu lợi nhuận hơn 100 triệu đồng/năm.

Từ trồng lúa sang trồng nấm.

Chi tiết
Sẽ điều chỉnh về mức thuế xuất khẩu sắn lát

Sẽ điều chỉnh về mức thuế xuất khẩu sắn lát

Ngày 29.6, Bộ Tài chính đã thông báo: Gần đây, Bộ Tài chính có nhận được công văn kiến nghị của một số doanh nghiệp và qua thông tin trên một số báo phản ánh khó khăn của doanh nghiệp khi thực hiện áp dụng chính sách thuế xuất khẩu sắn lát 5%.

 

Chi tiết
Không tăng sản lượng nông nghiệp để tránh ảnh hưởng thu nhập

Không tăng sản lượng nông nghiệp để tránh ảnh hưởng thu nhập

Nói về nguyên nhân của việc tăng chậm lại trong ngành nông nghiệp trong phiên họp Chính phủ tổ chức ngày 29/6, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Cao Đức Phát khẳng định, hạn hán và thị trường là hai vấn đề lớn. 

Cụ thể, theo Bộ trưởng, trong lĩnh vực trồng trọt, vụ Đông Xuân cho sản lượng giảm khoảng 160.000 tấn so với cùng kỳ khiến sự đóng góp của ngành bị hạn chế.

Chi tiết
Công nghệ sinh học đang phát huy hiệu quả

Công nghệ sinh học đang phát huy hiệu quả

Theo Bộ trưởng Bộ NN-PTNT Cao Đức Phát, với 214 đề tài, Chương trình Công nghệ sinh học (CNSH) trong nông nghiệp đã đem lại nhiều kết quả cụ thể, thúc đẩy SXNN.

Tuy nhiên, Việt Nam cần phải làm rất nhiều việc để ngành CNSH nông nghiệp tiến kịp khu vực và thế giới. Ra lò sản phẩm tiêu biểu Tại Hội nghị Phát triển nghiên cứu ứng dụng CNSH trong nông nghiệp diễn ra vào cuối tuần qua, Bộ trưởng Cao Đức Phát cho rằng, trong bối cảnh hội nhập quốc tế, nền nông nghiệp nước ta phải chuyển hẳn sang nền nông nghiệp SX hàng hóa có sức cạnh tranh quốc tế. Đó là một mệnh lệnh và ứng dụng CNSH được coi là giải pháp hữu hiệu để làm được điều đó. Vậy, qua 9 năm triển khai Chương trình nghiên cứu, ứng dụng CNSH trong nông nghiệp, chúng ta đã làm được gì? Trả lời câu hỏi này, bà Nguyễn Thị Thanh Thủy, Vụ trưởng Vụ KHCN (Bộ NN-PTNT), cho biết: Đối với lĩnh vực nông nghiệp, thông qua Chương trình đã ứng dụng công nghệ chỉ thị phân tử và chọn tạo được các giống lúa mang gen thơm, kháng sâu/bệnh như rầy nâu, đạo ôn, bạc lá, chịu hạn; giống ngô lai đơn chịu hạn; giống cam quýt; giống hoa... Đồng thời tạo được nhiều chế phẩm sinh học trong BVTV, phân bón, cải tạo đất, xử lý môi trường, thức ăn chăn nuôi, vắc xin... có hiệu quả trong SX. Đối với chăn nuôi, việc ứng dụng công nghệ chỉ thị phân tử đã xác định được các nguồn di truyền mang gen hữu hiệu phục vụ công tác lai, chọn tạo giống bò, lợn, gà; đã ứng dụng công nghệ sinh sản để nghiên cứu nâng cao hiệu quả sinh sản, sản lượng sữa trên bò, công nghệ bảo quản tinh dịch lợn. Trong lĩnh vực thủy sản giai đoạn 2007- 2014, các đàn tôm sú, tôm chân trắng chọn giống đã được nuôi đánh giá tăng trưởng ở các vùng địa lý khác nhau cho kết quả tốt... Việt Nam tự hào là một trong những quốc gia hàng đầu về XK lúa gạo, nhưng PGS. TS Lê Huy Hàm, Viện trưởng Viện Di truyền Nông nghiệp lại buồn vì nước nhà chưa có một thương hiệu gạo nào nổi tiếng trên thế giới. Nguyên nhân bởi đối tượng nghiên cứu của chúng ta quá dàn trải và chạy đua về số lượng, trong khi những giống có năng suất cao, chất lượng tốt, chống chịu với những điều kiện bất lợi lại không được tập trung nghiên cứu. Năm 2015, sau 10 năm phát triển hành lang pháp lý cho việc ứng dụng CNSH trong nông nghiệp, việc đưa một số giống cây trồng biến đổi gen (ngô) vào SX được coi là giải pháp quan trọng và có ý nghĩa giúp nông dân Việt Nam tiếp cận gần hơn với các giải pháp công nghệ và canh tác tiên tiến nhất trên thế giới. Tuy nhiên, sản phẩm ứng dụng thực tiễn của Chương trình chưa nhiều và chưa đáp ứng được nhu cầu của thực tiễn. Đầu tư dàn trải, hiệu quả thấp GS. TS Bùi Chí Bửu chia sẻ: Tiền đầu tư cho nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực nông nghiệp của nước ta ít quá, thua Philippines 7 lần, thua Thái Lan 10 lần. Với nguồn tiền eo hẹp như vậy, chúng ta chỉ có thể đi sâu nghiên cứu trọng điểm thì mới tạo ra được những sản phẩm tốt. Nối mạch ý kiến trên, PGS. TS Nông Văn Hải, Viện trưởng Viện Nghiên cứu hệ gen (Viện Hàn lâm KHCN Việt Nam) lấy ví dụ: Trên thế giới, để tạo ra được một giống cây biến đổi gen, chi phí đầu tư nghiên cứu có thể lên tới 50-100 triệu USD, nhưng một đề tài nghiên cứu tạo giống ngô chuyển gen của ta chỉ được hỗ trợ 3-5 tỷ đồng thì chẳng khác nào muối bỏ bể. Trả lời những câu hỏi của Bộ trưởng Cao Đức Phát, rằng liệu chúng ta có thể đi tắt đón đầu về CNSH, như lĩnh vực công nghệ thông tin được không? Và nếu câu trả lời là có thì chúng ta phải làm như thế nào?, GS. TS Bùi Chí Bửu, thẳng thắn: "Chúng ta hoàn toàn có thể làm được. Nguồn lực để tạo ra sự chuyển biến mạnh mẽ đó là đội ngũ trí thức mà Bộ NN-PTNT đã cử đi đào tạo ở nước ngoài (tổng số 250 người) về lĩnh vực CNSH. Tôi tiếp xúc với những người này và thấy họ rất giỏi. Vấn đề là phải làm sao để họ có môi trường làm việc tốt, được trang bị những trang thiết bị hiện đại để tạo ra sản phẩm tốt". Bộ trưởng Cao Đức Phát nhận định, sau gần 10 năm thực hiện Chương trình CNSN trong nông nghiệp với 214 đề tài, chúng ta đã đạt được những kết quả cụ thể, đặc biệt là vấn đề đào tạo nguồn nhân lực. Với việc cử 250 cán bộ đi đào tạo ở nước ngoài, sự hiểu biết của chúng ta về CNSH đã được nâng lên nhiều. Chúng ta cũng đã xây dựng và nâng cấp được 13 phòng thí nghiệm với các thiết bị máy móc hiện đại, qua đó tăng cường năng lực nắm bắt và bước đầu ứng dụng CNSH vào lĩnh vực chọn tạo giống, SX chế phẩm sinh học, vắc xin… Tuy nhiên, Bộ trưởng cũng thẳng thắn nhận định, những kết quả chúng ta đạt được trong lĩnh vực nghiên cứu ứng dụng CNSH trong nông nghiệp của chúng ta vẫn còn nhiều hạn chế. So với mặt bằng chung của các nước trong khối Asean, chúng ta chỉ được xếp loại ở mức trung bình thấp. Trong thời gian tới, cần tạo ra cơ chế, chính sách hợp lý để thu hút sự quan tâm và đầu tư của toàn xã hội, đặc biệt là các DN vào lĩnh vực nghiên cứu, ứng dụng CNSH trong SXNN.

 

Nguồn NongNghiep.vn

Chi tiết
Lương hơn 14 triệu, bộ trưởng sống bằng gì?

Lương hơn 14 triệu, bộ trưởng sống bằng gì?

Công chức bình thường cho đến bộ trưởng đều là con người mà lương không đủ sống thì phải tìm cách để sống.

Lương bộ trưởng hơn 14 triệu đồng sống cũng khó khăn, vậy phải sống dựa vào cái gì là chính? Đại biểu QH, báo chí lên tiếng về vấn đề này đều đúng. Bộ trưởng đã vậy, công chức phải sao đây? Công chức bình thường cho đến bộ trưởng đều là con người mà lương không đủ sống thì phải tìm cách để sống.

'Biết thiếu hụt mà cứ khuyên thanh liêm'

Đến đây lại nhớ tới nhà cải cách vĩ đại Nguyễn Trường Tộ thời kỳ Vua Tự Đức triều nhà Nguyễn. Đề cập tới lương quan lại trong bộ máy triều đình, cụ Nguyễn Trường Tộ viết: "Tôi tính lương tri huyện mỗi ngày không quá ba, bốn mạch, như vậy nuôi một người vẫn chưa đủ, huống chi nuôi một gia đình nhà quan. Đã biết thiếu hụt mà cứ đem lời nói suông, khuyên người ta thanh liêm như thế là ngầm để cho người tham nhũng.

Người Tây phương nói: Các quan lại nước Nam, trừ những người quá tham ô không nói, còn bao nhiêu những người khác, thường thường sau khi xong công việc, họ nhận của biếu xén, tạ ơn, điều đó cũng không đáng trách. Bởi vì có đủ cơm ăn, áo mặc thì mới nói đến chuyện vinh hay nhục, mà mọi việc ở đời cơ bản là sự nuôi nấng. Nếu không đủ nuôi sống, bản thân còn không tồn tại được, nói gì đến chuyện khác ngoài bản thân".

lương, bộ trưởng, cải cách lương, tham nhũng, công chức, Nguyễn Trường Tộ
Ảnh minh họa: Bình Minh

Mấy chục năm cải cách vẫn bó tay trước tham nhũng

Như vậy điểm không bình thường thứ nhất trong chế độ lương nước ta là không đủ sống. Không đủ sống nhưng người hưởng lương vẫn phải sống bằng nhiều cách. Sống dựa vào bố mẹ. Bố mẹ nuôi con ăn học, con cái đi làm vẫn dựa vào bố mẹ. Hoặc tự làm thêm đủ loại việc từ xe ôm, cắt tóc, bán hàng ăn, dạy học, dạy ngoại ngữ, mở phòng khám, chữa bệnh, mở hiệu thuốc, tư vấn, viết thuê dự án, đề án...

Cách không chính đáng là dựa vào chính công việc nhà nước trục lợi kiếm tiền. Nền hành chính qua mấy chục năm cải cách về cơ bản vẫn bó tay trước vấn nạn tham nhũng, từ tham nhũng vặt cho đến tham nhũng vừa và đại tham nhũng.

Điểm không bình thường thứ hai là lương không tuân thủ nguyên tắc thứ bậc hành chính. Lương của những người đứng đầu hệ thống không phải cao nhất.

Lương một thứ trưởng mới bổ nhiệm có thể thấp hơn lương một vụ trưởng lâu năm trong bộ. Có nước nào thiết kế lương theo kiểu như vậy?

 

Và điểm này liên quan tới vấn đề không bình thường thứ ba, đó là với cải cách lương bắt đầu từ 1993, 1994 thì hệ thống lương theo chức vụ lãnh đạo, quản lý bị xóa bỏ, có nghĩa là không có lương cho các chức vụ phó trưởng phòng, trưởng phòng, chánh, phó giám đốc sở, phó vụ trưởng, vụ trưởng và thứ trưởng và các chức vụ tương đương. Thay vào đó là cái gọi là phụ cấp trách nhiệm (lãnh đạo, quản lý).

Đây cũng là điểm khác căn bản của lương công vụ Việt Nam so với nhiều nước. Giá trị thật của chức vụ lãnh đạo, quản lý thể hiện qua phụ cấp bị hạ thấp đáng kể và cái mà một bộ phận lãnh đạo, quản lý tìm kiếm lại là lợi lộc gắn với công việc thay cho giá trị đó.

Điểm không bình thường thứ tư là tính bính quân chủ nghĩa, cào bằng trong chế độ lên lương. Cứ tằng tằng hai, ba năm lên một bậc. Sau này đã chỉnh sửa bằng chế độ lên lương sớm, nhưng lại khống chế tỉ lệ phần trăm quá chặt.

Thêm vào đó, thực tiễn hầu như không có chuyện hạ bậc lương, cho nên yếu tố khen thưởng và kỷ luật trong chế độ lên lương hầu như không có. Chất lượng công vụ vì thế cũng bị ảnh hưởng.

Quá nhiều phụ cấp đặc thù

Điểm không bình thường thứ năm là hệ thống lương có quá nhiều chế độ phụ cấp có tính đặc thù. Lương thấp nên hầu như ngành nào cũng thuyết minh, báo cáo ngành, lĩnh vực mình quản lý có đặc thù riêng, cần thể hiện ra là cái gọi là phụ cấp: phụ cấp độc hại, phụ cấp ngành giáo dục, y tế, thanh tra, phụ cấp công vụ..

Có ngành có phụ cấp thâm niên, nhưng có ngành lại không. Tính công bằng tương đối trong chế độ tiền lương bị phá vỡ.

Điểm không bình thường thứ sáu là tách lương lãnh đạo doanh nghiệp nhà nước (DNNN) ra khỏi hệ thống lương hành chính, sự nghiệp. Với quan niệm là tăng cường tính chủ động, tự chịu trách nhiệm của DNNN, lời lỗ tự lo, nên hầu như sự kiểm soát của nhà nước về lương các chức vụ lãnh đạo DNNN không có và thực tế có sự chênh quá lớn với lương hệ thống hành chính sự nghiệp.

Điểm không bình thường thứ bảy trong hệ thống lương, thu nhập nước ta là tính công khai, minh bạch rất thấp và cơ chế đi kèm nhằm bảo đảm. Lương của Thủ tướng Singapore, của Tổng thống Mỹ được công khai. Tổng thống Mỹ thôi chức thì chế độ lương hưu, chế độ bảo vệ, đi lại, chế độ lập thư viện... đều được công khai.

Việt Nam cũng có các chế độ tương ứng. Tuy nhiên cụ thể như thế nào thì không ai biết, gần như là bí mật quốc gia. Nói đơn giản như các vị đại biểu QH họp cả tháng trời như vậy có nhận thêm tiền thù lao, bồi dưỡng? Nhận thù lao là hoàn toàn chính đáng, cần được công khai.

Với những điểm không bình thường như vậy, câu chuyện cải cách tiền lương ở nước ta sẽ còn dài dài.

Theo Đinh Duy Hòa, nguon Vietnamnet

Chi tiết
Khảo sát vườn điều ghép năng suất cao

Khảo sát vườn điều ghép năng suất cao

Nhiều nhà vườn SX điều ở các huyện Trảng Bom, Xuân Lộc, Tân Phú (Đồng Nai) được Trung tâm Nghiên cứu và phát triển điều (Viện KHKT nông nghiệp miền Nam) khảo sát giống và bình tuyển cây đầu dòng cho năng suất, chất lượng tốt.

Khảo sát vườn điều ghép năng suất cao

Ông Bê bên vườn điều ghép cho thu nhập cao

 

 

Chi tiết
Nấm hương “thương” phụ nữ

Nấm hương “thương” phụ nữ

 

TT - Các nhà khoa học Mỹ đang mở rộng nghiên cứu dùng chiết xuất từ nấm hương để ngăn chặn ung thư cổ tử cung. Còn y học cổ truyền đã coi nấm hương là thuốc bổ cao cấp.

Nấm hương khô được bán tại chợ Bà Chiểu, Q.Bình Thạnh, TP.HCM chiều 29-11 -  Ảnh: Quang Định

Nấm hương khô được bán tại chợ Bà Chiểu, Q.Bình Thạnh, TP.HCM.  Ảnh: Quang Định

Chi tiết
Trồng mè lãi gấp 3 lúa.

Trồng mè lãi gấp 3 lúa.

Mè (Sesamum indicum L.) còn gọi là vừng, là loại cây có dầu, cây thực phẩm hiện đang được rất nhiều địa phương quan tâm phát triển, đặc biệt là vùng ĐBSCL. Cây mè có thời gian sinh trưởng ngắn, thuận lợi trong tiêu dùng ở phạm vi nông hộ, đồng thời cũng là cây trồng “dễ tính”, ít đòi hỏi thâm canh, có khả năng tận dụng đất đai, mùa vụ, dễ tiêu thụ trên thị trường, thích hợp luân, xen canh và gối vụ.

Trong những năm gần đây, giá mè hạt tương đối ổn định và dễ tiêu thụ trên thị trường. Với thời gian sinh trưởng ngắn, chịu hạn, đầu tư thấp, giá bán cao, hiện nay mè là một trong những cây trồng cạn ứng dụng để chuyển đổi cơ cấu cây trồng trên đất lúa rất hiệu quả. 

Chi tiết
Vụ mùa 2015, những vấn đề lưu ý

Vụ mùa 2015, những vấn đề lưu ý

 
 

Vụ mùa 2015, áp lực thời vụ tuy không cao, vì lúa xuân thu hoạch sớm, tuy nhiên cần hướng dẫn bà con nông dân tuân thủ các giải pháp kỹ thuật...

 

Theo Trung tâm Dự báo Khí tượng thủy văn TƯ, từ nay đến cuối năm, hiện tượng El Nino bộc lộ rất rõ ràng và đang vào giai đoạn phát triển, dòng hải lưu nóng ở Thái Bình Dương gia tăng, nền nhiệt trung bình cao hơn trung bình năm ngoái (TBNN) từ 1 - 1,5 độ C. Lượng mưa thiếu hụt và hạn hán sẽ khốc liệt hơn ở miền Trung. Bão và áp thấp được dự báo ít hơn TBNN, tác động và ảnh hưởng chỉ 5 - 6 cơn, song có hướng di chuyển phức tạp và cường độ, cấp gió dữ dội hơn. Tất cả các dự báo này đều là những bất lợi rất lớn cho SX vụ HT, mùa. Năng suất lúa HT, mùa về tiềm năng không cao bằng vụ ĐX. Vụ này tác động của mưa, bão gây úng lụt đe dọa suốt từ đầu đến cuối vụ, kèm theo là các hệ quả gây chết lúa sau cấy khi cây chưa kịp bén rễ hồi xanh, hoặc ngay cả khi đã ra rễ và bắt đầu đẻ nhánh nếu ngập lụt kéo dài cũng sẽ làm chết úng, rễ đen, thân lá thối và phải gieo cấy lại. Việc gieo cấy lại nếu còn trong khung thời vụ thì mới có hiệu quả, nhưng bản thân sự cố này cũng sẽ làm phá vỡ cơ cấu, vỡ mùa vụ, ảnh hưởng dây chuyền tới vụ đông kế tiếp. Ở vụ mùa, mưa bão lớn làm lá lúa dễ bị rách, tổn thương và nguy cơ lây lan dịch bệnh bạc lá sẽ không tránh khỏi, thực tế với những giống lúa mẫn cảm, sau mưa, bão giai đoạn lúa chuẩn bị trổ bông, lá bị tổn thương có khi cả cánh đồng lá bạc trắng, năng suất giảm trầm trọng. Mưa bão giai đoạn trổ bông, phơi màu ngăn cản quá trình thụ phấn, kết hạt và vì lẽ đó, về tổng thể tỷ lệ lép ở vụ mùa bao giờ cũng cao hơn vụ ĐX. Cũng vì mưa, bão, nhiệt độ cao, hiệu quả phân bón ở vụ mùa thường thấp hơn vụ ĐX, phân bón dễ bị rửa trôi, song lại có nguy cơ khi bón sẽ cung cấp ồ ạt cho cây và dẫn tới mất cân đối trong quá trình hấp thụ, làm giảm sức chống chịu của cây. Những giải pháp Vụ mùa 2015, áp lực thời vụ tuy không cao, vì lúa xuân thu hoạch sớm, tuy nhiên cần hướng dẫn bà con nông dân tuân thủ các giải pháp kỹ thuật sau:

 

- Sau thu hoạch lúa xuân tranh thủ cày, lồng vận rạ càng nhanh, càng tốt, giữ nước mặt ruộng và sử dụng thêm các chế phẩm như Tricoderma, phân vi sinh đa chủng đa chức năng… bón rải mặt ruộng để xúc tiến cũng như hỗ trợ quá trình phân hủy rơm rạ, tránh hiện tượng ngộ độc hữu cơ cho lúa mùa sau cấy, nhất là với trà lúa mùa sớm. Đây cũng là giải pháp bổ sung hữu cơ cho đất, tránh đốt rơm rạ gây ngột ngạt và ô nhiễm môi trường.

 

- Vệ sinh đồng ruộng, sơn bờ, cuốc góc để hạn chế nguồn sâu bệnh trên ký chủ, kết hợp san phẳng mặt ruộng giúp cho quá trình tưới tiêu thuận lợi.

 

- Tổ thủy nông, HTX dùng nước cần chủ động sớm trong việc khơi thông mương máng, các công trình đầu khâu, vớt bèo bồng trên các trục sông tiêu, đầu các cống tiêu lớn, kiểm tra vận hành hệ thống điều khiển cống tiêu, các máy bơm tiêu úng, kể cả chuẩn bị hệ thống máy dầu dã chiến... đảm bảo tốt năng lực tưới và tiêu úng nhanh nhất. Trong bối cảnh El Nino, dự báo mưa với cường độ cao, đồng ruộng bị chia cắt bưởi các công trình giao thông, đô thị, năng lực tiêu úng bị hạn chế, việc chuẩn bị kỹ các phương án tiêu cần được các địa phương tính toán và sẵn sàng cao nhất.

 

- Về kỹ thuật: Sử dụng các giống lúa ngắn ngày; mở rộng trà mùa sớm, cực sớm để khi có nguy cơ mưa lớn gây ngập úng thì cây lúa đã ở giai đoạn đẻ nhánh rộ, lá đã vươn, tránh được khả năng ngập sâu trong nước; giai đoạn này chỉ cần thò chóp lá đã có thể không bị thiệt hại. Thực tế nhiều năm gần đây, trà cực sớm và sớm ở miền Bắc an toàn và cho năng suất cao, ổn định hơn. Chủ trương của Bộ NN-PTNT khuyến cáo các địa phương mở rộng diện tích trà này cũng để tạo thêm quỹ đất làm cây vụ đông ưa ấm, nhóm cây rau màu có giá thu hoạch cao. Một số vùng bà con nông dân để lúa chét sau thu hoạch lúa xuân, thâm canh lúa chét cho thu hoạch 100 - 130 kg/sào Bắc bộ, tương đương 3,1 - 3,3 tấn/ha, trong khi phải bỏ ra chi phí rất thấp, lãi thu được từ thâm canh lúa chét cao gấp 1,5 - 2 lần cấy lúa mùa sớm hoặc chính vụ. Cái được lớn hơn là tháng 9 bà con đã có quỹ đất để làm các cây vụ đông, rau màu ưa ấm, ngô thu đông cho năng suất và giá trị rất cao. Công thức này làm rất thành công ở Thái Bình, giá trị thu hoạch/ha cao tới 300 - 350 triệu đồng. Mặc dù một số hiệp định song phương, xuyên Thái Bình Dương (TPP) về chính sách thương mại đã và sẽ được ký kết giữa VN với các nước, nhưng bức tranh tiêu thụ nông sản của chúng ta vẫn chưa hẳn sáng màu.

 

Các mặt hàng chủ lực XK như lúa gạo, cao su, cà phê... vẫn khó tiêu thụ và giá cả duy trì ở mức thấp, vài triệu tấn gạo của Thái Lan tạm trữ luôn có nhu cầu xả hàng, ngoài ra còn áp lực cạnh tranh từ lúa gạo của Campuchia, Ấn Độ, Myanmar… Cần tuân thủ chủ trương quy hoạch vùng đối với các trà lúa, giống lúa để gắn với mùa vụ và biện pháp kỹ thuật cũng như chủ động trong các biện pháp phòng chống úng ngập. Có phương án dự phòng giống nhóm ngắn ngày đề phòng bất trắc. Hạn chế sử dụng các giống lúa mẫn cảm với bạc lá, với dự báo như vụ mùa năm nay, nguy cơ bệnh lan thành dịch rất cao. Các giống lúa chất lượng nên bố trí né vùng thường xuyên có ổ bệnh hàng năm. Các biện pháp canh tác cần được thông tin, hướng dẫn cặn kẽ cho nông dân, bệnh bạc lá cần được theo dõi chặt ở các ổ bệnh, điều tiết phân bón và phun phòng bằng một số loại thuốc khi mới chớm bệnh theo hướng dẫn của cán bộ BVTV. Hiện đã có một số tiến bộ kỹ thuật về giống có gen kháng bạc lá, một số vụ mùa gần đây đã được các Cty phối hợp với Sở NN-PTNT, Trung tâm Khuyến nông các tỉnh trình diễn khá thuyết phục, cần được mở rộng. Bón phân cho lúa vụ mùa cần tuân thủ nguyên tắc: "Nhìn cây, nhìn đất và nhìn trời"; bón lót sâu, sử dụng phân bón chậm tan và "nặng đầu, nhẹ cuối", bón NPK hỗn hợp hoặc phức hợp, cân đối đạm, lân, kali. Hạn chế bón nuôi đòng bằng đạm ure, nhất là với các giống lúa chất lượng mẫn cảm với bạc lá để lá công năng không bị hư hại, bổ sung các chất trung, vi lượng, đặc biệt silic dạng nano dễ tiêu để tăng cường sức chống chỡ, ngăn cản xâm nhập của nấm và vi khuẩn vào mô cây. - Theo dõi chặt chẽ diễn biến sâu bệnh hại mưa bão. Phương châm dùng nước cho lúa vụ HT, mùa là “Rút cạn lòng sông, tưới nông mặt ruộng”, luôn đề phòng và chủ động tiêu úng là chính, ông cha ta cũng đã đúc rút kinh nghiệm “Chiêm chết khô, mùa chết úng” là vậy. Thực tế cho thấy, mặc dù đối mặt với nhiều bất lợi nhưng nếu chúng ta chủ động, tiên lượng được tình hình, vào cuộc chỉ đạo sớm, quyết liệt vụ lúa mùa vẫn có thể giành thắng lợi.

Th.S Trần Xuân Định (Phó Cục trưởng Cục Trồng trọt)

 

Chi tiết
Thích ứng cây trồng trước biến đổi khí hậu

Thích ứng cây trồng trước biến đổi khí hậu

Biến đổi khí hậu (BĐKH) đang diễn ra ngày càng khốc liệt, đe dọa an ninh lương thực và có tác động toàn diện đến sự phát triển bền vững của đất nước. Để ứng phó, giảm nhẹ tác động tiêu cực của BĐKH lên sản xuất nông nghiệp, thích ứng cho cây trồng là biện pháp, hướng mở có ý nghĩa rất quan trọng và hiệu quả.

Chi tiết
Tăng thuế xuất khẩu sắn lát, tất cả đều méo mặt.

Tăng thuế xuất khẩu sắn lát, tất cả đều méo mặt.

Thông tư 63/2015/TT-BTC của Bộ Tài chính mới ban hành, các DN kinh doanh XK mặt hàng mì lát (sắn lát) lập tức “xây xẩm” vì mức thuế suất từ 0% tăng lên 5%.

Gánh nặng này không chỉ đè trên vai các DN chuyên XK mặt hàng mì lát mà còn làm oằn lưng nông dân trực tiếp SX. Việc tăng thuế XK mì lát đã được Bộ Tài chính dự tính từ đầu tháng 3/2015 dựa trên những kiến nghị của Hiệp hội Nhiên liệu sinh học Việt Nam. Mục tiêu là nhằm hỗ trợ, đảm bảo nguồn nguyên liệu cho SX cồn ethanol, nguyên liệu chính để pha chế xăng sinh học (E5, E10). 

Chi tiết
Thông tin cập nhật trang 14 Thông tin cập nhật trang 14

10/ 10 - 3308 phiếu bầu
Trung tâm Nghiên cứu Thực nghiệm Nông nghiệp Hưng Lộc
Địa Chỉ: Xã Hưng Thịnh, Huyện Trảng Bom, Đồng Nai
Ðiện Thoại: (0251) 3678839; 3868279; 3868146
Fax: (0251) 3868632
Email: trungtamhungloc.harc@gmail.com
 
Online Trực tuyến :  7
Online Hôm nay:  2705
Online Hôm qua:  4315
Online Tất cả:  3302377
Sản phẩm đã được thêm vào giỏ hàng
Tiếp tục mua hàng
Xem giỏ hàng