Thông tin cập nhật

Hội thảo đầu bờ về mô hình sản xuất đậu xanh tại Công Hải

Hội thảo đầu bờ về mô hình sản xuất đậu xanh tại Công Hải

(NTO) Ngày 15-7, tại thôn Hiệp Kiết (Công Hải, Thuận Bắc), Trung tâm Nghiên cứu thực nghiệm nông nghiệp Hưng Lộc thuộc Viện Khoa học Kỹ thuật nông nghiệp miền Nam tổ chức hội thảo đầu bờ đánh giá mô hình sản xuất, phát triển đậu xanh.

Chi tiết
Nhà khoa học Việt không còn phải 'nói dối'

Nhà khoa học Việt không còn phải 'nói dối'

 - Với thông tư mới về định mức kinh phí với các dự án khoa học công nghệ (KHCN), các nhà khoa học sẽ không còn rơi vào tình cảnh buộc phải nói dối như trước đây.

Thông tư liên tịch số 55 do Bộ Tài chính và Bộ KH&CN ban hành ngày 22/4 và có hiệu lực từ 8/6, đưa ra những quy định mới về định mức chi và xây dựng dự toán cho các dự án KHCN, hứa hẹn sẽ giúp “cởi trói” cho các nhà khoa học trong hoạt động nghiên cứu.

khoa học, nhà khoa học, nghiên cứu, dự án nghiên cứu, nói dối, hóa đơn chứng từ, tài chính, vướng mắc

Thứ trưởng Bộ KH&CN Phạm Công Tạc tại buổi họp báo sáng 9/7. Ảnh: Lê Văn.

 

Chi tiết
Hai năm tái cơ cấu nông nghiệp ĐBSCL: Nhiều chuyển biến tích cực

Hai năm tái cơ cấu nông nghiệp ĐBSCL: Nhiều chuyển biến tích cực

Ngày 11/7, tại Đồng Tháp, Bộ NN-PTNT đã tổ chức hội nghị sơ kết 2 năm thực hiện đề án “Tái cơ cấu ngành nông nghiệp vùng ĐBSCL”.

Hai năm tái cơ cấu nông nghiệp ĐBSCL: Nhiều chuyển biến tích cực

Toàn cảnh hội nghị sơ kết 2 năm thực hiện đề án TCCNN vùng ĐBSCL

* Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải: Cả hệ thống chính trị cần vào cuộc Phó Thủ tướng Chính phủ Hoàng Trung Hải, Trưởng ban Chỉ đạo liên ngành Trung ương về đề án tái cơ cấu nông nghiệp; Bộ trưởng Bộ NN-PTNT Cao Đức Phát và ông Lê Minh Hoan, Bí thư Tỉnh ủy Đồng Tháp đồng chủ trì hội nghị

 

Chi tiết
Tái cơ cấu ngành nông nghiệp vùng ĐBSCL: “Tạo ra chuyển biến tích cực về nhận thức…”

Tái cơ cấu ngành nông nghiệp vùng ĐBSCL: “Tạo ra chuyển biến tích cực về nhận thức…”

Ngày 11.7, BCĐ Liên ngành về tái cơ cấu ngành nông nghiệp Quốc gia đã tổ chức Hội nghị sơ kết 2 năm thực hiện tái cơ cấu ngành nông nghiệp vùng ĐBSCL.

Sản phẩm ớt, một trong 5 mặt hàng chủ lực của tỉnh Đồng Tháp

 

Chi tiết
Tăng thuế xuất khẩu mặt hàng sắn lên 5%

Tăng thuế xuất khẩu mặt hàng sắn lên 5%

 

(TBTCO) – Bộ Tài chính vừa ban hành Thông tư số 63/2015/TT-BTC sửa đổi mức thuế suất thuế xuất khẩu đối với mặt hàng sắn thuộc nhóm 07.14 tại Biểu thuế xuất khẩu ban hành kèm theo Thông tư số 164/2013/TT-BTC ngày 15/11/2013 của Bộ trưởng Bộ Tài chính.

Chi tiết
50 tỷ đồng chuyển giao bản quyền giống ngô

50 tỷ đồng chuyển giao bản quyền giống ngô

Ngày 24/6, Viện Nghiên cứu ngô đã 4 ký hợp đồng chuyển giao và chuyển nhượng quyền phân phối 4 giống ngô do Viện Nghiên cứu cho một số DN.

Với tổng giá trị chuyển giao - chuyển nhượng gần 50 tỷ đồng, sự kiện này tiếp tục khẳng định hiệu quả, vị thế của Viện về nghiên cứu giống ngô trong bối cảnh gặp nhiều khó khăn thách thức. 4 hợp đồng chuyển giao bản quyền, chuyển nhượng quyền phân phối một số giống ngô lai mới của Viện bao gồm: Chuyển giao bản quyền giống ngô lai LVN 102 cho Cty CP Bảo vệ thực vật TW 1 với giá trị 4,2 tỷ đồng; Chuyển nhượng quyền phân phối và đặt hàng SX giống ngô lai A 380 cho Cty CP Đại Thành với lượng hạt giống 520 tấn, tổng giá trị hợp đồng là 25 tỷ đồng; Chuyển nhượng quyền phân phối và đặt hàng SX giống ngô lai HT 119 cho Cty CP Vật tư kỹ thuật nông nghiệp Bắc Giang với khối lượng hạt giống 350 tấn, tổng giá trị hợp đồng 17 tỷ đồng; Chuyển nhượng quyền phân phối và đặt hàng SX giống ngô lai LVN 111 cho Cty CP Bảo vệ thực vật TW 1 với khối lượng hạt giống 30 tấn, tổng giá trị hợp đồng là 2 tỷ đồng. Tổng giá trị 4 hợp đồng được ký kết là 48,2 tỷ đồng. Ngoài 4 hợp đồng chuyển giao bản quyền và chuyển nhượng quyền phân phối, Viện Nghiên cứu ngô cũng đã ký biên bản ghi nhớ về hợp tác phát triển 2 giống ngô gồm LVN 883 và VN 556 với Cty CP Bảo vệ thực vật TW 1. Tại lễ ký kết, TS Bùi Mạnh Cường, Viện trưởng Viện Nghiên cứu ngô tiết lộ: "Tháng 11/2015 tới đây, Viện sẽ ký thêm một hợp đồng chuyển giao bản quyền giống ngô cho Cty CP Giống cây trồng miền Nam (SSC). Với tổng sản lượng giống mang thương hiệu Việt Nam từ 6.000 - 7.000 tấn/năm, sản phẩm nghiên cứu của Viện Nghiên cứu ngô hiện đã chiếm 30 - 35% thị phần giống ngô cả nước và đang tiếp tục chiếm lĩnh thị phần. Nếu hợp tác giữa Viện và SSC thành công trong năm 2015 thì đây sẽ là lần đầu tiên qua 4 thế hệ lãnh đạo, Viện Nghiên cứu ngô mới chính thức có sản phẩm giống ngô được SSC “nhòm ngó”, một DN lớn trong ngành giống". Theo ông Trần Xuân Định, Phó Cục trưởng Cục Trồng trọt, cùng với gần chục bản quyền giống và các tiến bộ kỹ thuật đã được các DN tiếp nhận và phân phối trước đây, 5 sự kiện chuyển giao, hợp tác SX giống ngô vừa được ký kết đã đưa Viện Nghiên cứu ngô trở thành đơn vị khoa học trong ngành giống có số lượng sản phẩm nghiên cứu được chuyển giao bản quyền đưa ra SX lớn nhất hiện nay. “Với chủ trương siết chặt công nhận giống của Bộ NN-PTNT, việc Viện Nghiên cứu ngô liên tiếp đưa ra nhiều giống mới, được DN đón nhận ký bản quyền cho thấy nỗ lực và hiệu quả nghiên cứu của Viện đang được thực tiễn chấp nhận”, ông Định đánh giá. Đồng tình với nhận xét này, bà Nguyễn Thị Thanh Thủy, Vụ trưởng Vụ KH-CN&MT (Bộ NN-PTNT) cho rằng, trong bối cảnh Việt Nam sẽ tham gia nhiều hiệp định tự do thương mại quốc tế sắp tới, ngành giống nói chung, đặc biệt giống ngô sẽ chịu áp lực cạnh tranh khốc liệt hơn nữa bởi các tập đoàn SX giống ngô đa quốc gia, mà trước mắt là các giống ngô chuyển gen đã được đưa vào SX. Trong bối cảnh đó, Viện Nghiên cứu ngô tạo được niềm tin, cùng thống nhất ý tưởng và có sự tham gia ngay từ đầu của các DN là một hướng vô cùng quan trọng để từng bước trụ vững, tự chủ nguồn giống ngô trong nước. Cũng theo bà Thủy, từ năm 2016, các Viện nghiên cứu công lập sẽ bắt đầu chuyển sang cơ chế tự chủ, vì vậy thành quả của Viện Nghiên cứu ngô sẽ là tiền đề vững chắc cho các giai đoạn tới. Cùng với giống ngô lai, sắp tới, Viện Nghiên cứu ngô sẽ thành lập thêm một số bộ môn nghiên cứu mới phù hợp hơn với chiến lược phát triển cũng như điều chỉnh lại hướng nghiên cứu để hình thành các nhóm sản phẩm mới có tính đột phá. Theo đó, Viện sẽ thành lập thêm 4 bộ môn mới gồm: Công nghệ gen, Thức ăn gia súc, Ngô thực phẩm và Chọn tạo dòng công nghệ cao. Với bộ môn Công nghệ gen, mục tiêu sẽ cho ra được nhóm sản phẩm nhóm ngô chuyển gen. Với cây thức ăn gia súc, hiện Cty sữa Cô gái Hà Lan đã đặt hàng cho Viện 200 nghìn USD để chọn ra một giống thức ăn xanh cho bò sữa. Ngoài ra viện sẽ hướng tới SX giống cao lương. Hiện SSC đã đặt hàng Viện một giống cao lương có năng suất đạt yêu cầu và độ đường đạt 6 - 9% sẽ bỏ tiền mua bản quyền. (TS. Bùi Mạnh Cường, Viện trưởng Viện Nghiên cứu ngô).

Nguồn NongNghiep.vn

Chi tiết
Than sinh học tăng năng suất đậu phụng.

Than sinh học tăng năng suất đậu phụng.

Than sinh học (Biochar) không những làm tăng năng suất cây đậu phụng trên đất cát mà còn giữ ẩm, giữ phân bón, giữ nguồn vi sinh sinh vật có lợi trong đất

Than sinh học tăng năng suất đậu phụng

Dùng chế phẩm Biochar nâng cao năng suất đậu phụng

 

Chi tiết
“Triệu phú” nấm bào ngư ở miền Tây

“Triệu phú” nấm bào ngư ở miền Tây

KTNT - Nhờ chuyển đổi từ trồng lúa sang trồng nấm bào ngư, anh Bùi Văn U, ngụ ấp Phú Lợi A, xã Phú Thuận B (Hồng Ngự - Đồng Tháp) thu lợi nhuận hơn 100 triệu đồng/năm.

Từ trồng lúa sang trồng nấm.

Chi tiết
Sẽ điều chỉnh về mức thuế xuất khẩu sắn lát

Sẽ điều chỉnh về mức thuế xuất khẩu sắn lát

Ngày 29.6, Bộ Tài chính đã thông báo: Gần đây, Bộ Tài chính có nhận được công văn kiến nghị của một số doanh nghiệp và qua thông tin trên một số báo phản ánh khó khăn của doanh nghiệp khi thực hiện áp dụng chính sách thuế xuất khẩu sắn lát 5%.

 

Chi tiết
Không tăng sản lượng nông nghiệp để tránh ảnh hưởng thu nhập

Không tăng sản lượng nông nghiệp để tránh ảnh hưởng thu nhập

Nói về nguyên nhân của việc tăng chậm lại trong ngành nông nghiệp trong phiên họp Chính phủ tổ chức ngày 29/6, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Cao Đức Phát khẳng định, hạn hán và thị trường là hai vấn đề lớn. 

Cụ thể, theo Bộ trưởng, trong lĩnh vực trồng trọt, vụ Đông Xuân cho sản lượng giảm khoảng 160.000 tấn so với cùng kỳ khiến sự đóng góp của ngành bị hạn chế.

Chi tiết
Công nghệ sinh học đang phát huy hiệu quả

Công nghệ sinh học đang phát huy hiệu quả

Theo Bộ trưởng Bộ NN-PTNT Cao Đức Phát, với 214 đề tài, Chương trình Công nghệ sinh học (CNSH) trong nông nghiệp đã đem lại nhiều kết quả cụ thể, thúc đẩy SXNN.

Tuy nhiên, Việt Nam cần phải làm rất nhiều việc để ngành CNSH nông nghiệp tiến kịp khu vực và thế giới. Ra lò sản phẩm tiêu biểu Tại Hội nghị Phát triển nghiên cứu ứng dụng CNSH trong nông nghiệp diễn ra vào cuối tuần qua, Bộ trưởng Cao Đức Phát cho rằng, trong bối cảnh hội nhập quốc tế, nền nông nghiệp nước ta phải chuyển hẳn sang nền nông nghiệp SX hàng hóa có sức cạnh tranh quốc tế. Đó là một mệnh lệnh và ứng dụng CNSH được coi là giải pháp hữu hiệu để làm được điều đó. Vậy, qua 9 năm triển khai Chương trình nghiên cứu, ứng dụng CNSH trong nông nghiệp, chúng ta đã làm được gì? Trả lời câu hỏi này, bà Nguyễn Thị Thanh Thủy, Vụ trưởng Vụ KHCN (Bộ NN-PTNT), cho biết: Đối với lĩnh vực nông nghiệp, thông qua Chương trình đã ứng dụng công nghệ chỉ thị phân tử và chọn tạo được các giống lúa mang gen thơm, kháng sâu/bệnh như rầy nâu, đạo ôn, bạc lá, chịu hạn; giống ngô lai đơn chịu hạn; giống cam quýt; giống hoa... Đồng thời tạo được nhiều chế phẩm sinh học trong BVTV, phân bón, cải tạo đất, xử lý môi trường, thức ăn chăn nuôi, vắc xin... có hiệu quả trong SX. Đối với chăn nuôi, việc ứng dụng công nghệ chỉ thị phân tử đã xác định được các nguồn di truyền mang gen hữu hiệu phục vụ công tác lai, chọn tạo giống bò, lợn, gà; đã ứng dụng công nghệ sinh sản để nghiên cứu nâng cao hiệu quả sinh sản, sản lượng sữa trên bò, công nghệ bảo quản tinh dịch lợn. Trong lĩnh vực thủy sản giai đoạn 2007- 2014, các đàn tôm sú, tôm chân trắng chọn giống đã được nuôi đánh giá tăng trưởng ở các vùng địa lý khác nhau cho kết quả tốt... Việt Nam tự hào là một trong những quốc gia hàng đầu về XK lúa gạo, nhưng PGS. TS Lê Huy Hàm, Viện trưởng Viện Di truyền Nông nghiệp lại buồn vì nước nhà chưa có một thương hiệu gạo nào nổi tiếng trên thế giới. Nguyên nhân bởi đối tượng nghiên cứu của chúng ta quá dàn trải và chạy đua về số lượng, trong khi những giống có năng suất cao, chất lượng tốt, chống chịu với những điều kiện bất lợi lại không được tập trung nghiên cứu. Năm 2015, sau 10 năm phát triển hành lang pháp lý cho việc ứng dụng CNSH trong nông nghiệp, việc đưa một số giống cây trồng biến đổi gen (ngô) vào SX được coi là giải pháp quan trọng và có ý nghĩa giúp nông dân Việt Nam tiếp cận gần hơn với các giải pháp công nghệ và canh tác tiên tiến nhất trên thế giới. Tuy nhiên, sản phẩm ứng dụng thực tiễn của Chương trình chưa nhiều và chưa đáp ứng được nhu cầu của thực tiễn. Đầu tư dàn trải, hiệu quả thấp GS. TS Bùi Chí Bửu chia sẻ: Tiền đầu tư cho nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực nông nghiệp của nước ta ít quá, thua Philippines 7 lần, thua Thái Lan 10 lần. Với nguồn tiền eo hẹp như vậy, chúng ta chỉ có thể đi sâu nghiên cứu trọng điểm thì mới tạo ra được những sản phẩm tốt. Nối mạch ý kiến trên, PGS. TS Nông Văn Hải, Viện trưởng Viện Nghiên cứu hệ gen (Viện Hàn lâm KHCN Việt Nam) lấy ví dụ: Trên thế giới, để tạo ra được một giống cây biến đổi gen, chi phí đầu tư nghiên cứu có thể lên tới 50-100 triệu USD, nhưng một đề tài nghiên cứu tạo giống ngô chuyển gen của ta chỉ được hỗ trợ 3-5 tỷ đồng thì chẳng khác nào muối bỏ bể. Trả lời những câu hỏi của Bộ trưởng Cao Đức Phát, rằng liệu chúng ta có thể đi tắt đón đầu về CNSH, như lĩnh vực công nghệ thông tin được không? Và nếu câu trả lời là có thì chúng ta phải làm như thế nào?, GS. TS Bùi Chí Bửu, thẳng thắn: "Chúng ta hoàn toàn có thể làm được. Nguồn lực để tạo ra sự chuyển biến mạnh mẽ đó là đội ngũ trí thức mà Bộ NN-PTNT đã cử đi đào tạo ở nước ngoài (tổng số 250 người) về lĩnh vực CNSH. Tôi tiếp xúc với những người này và thấy họ rất giỏi. Vấn đề là phải làm sao để họ có môi trường làm việc tốt, được trang bị những trang thiết bị hiện đại để tạo ra sản phẩm tốt". Bộ trưởng Cao Đức Phát nhận định, sau gần 10 năm thực hiện Chương trình CNSN trong nông nghiệp với 214 đề tài, chúng ta đã đạt được những kết quả cụ thể, đặc biệt là vấn đề đào tạo nguồn nhân lực. Với việc cử 250 cán bộ đi đào tạo ở nước ngoài, sự hiểu biết của chúng ta về CNSH đã được nâng lên nhiều. Chúng ta cũng đã xây dựng và nâng cấp được 13 phòng thí nghiệm với các thiết bị máy móc hiện đại, qua đó tăng cường năng lực nắm bắt và bước đầu ứng dụng CNSH vào lĩnh vực chọn tạo giống, SX chế phẩm sinh học, vắc xin… Tuy nhiên, Bộ trưởng cũng thẳng thắn nhận định, những kết quả chúng ta đạt được trong lĩnh vực nghiên cứu ứng dụng CNSH trong nông nghiệp của chúng ta vẫn còn nhiều hạn chế. So với mặt bằng chung của các nước trong khối Asean, chúng ta chỉ được xếp loại ở mức trung bình thấp. Trong thời gian tới, cần tạo ra cơ chế, chính sách hợp lý để thu hút sự quan tâm và đầu tư của toàn xã hội, đặc biệt là các DN vào lĩnh vực nghiên cứu, ứng dụng CNSH trong SXNN.

 

Nguồn NongNghiep.vn

Chi tiết
Lương hơn 14 triệu, bộ trưởng sống bằng gì?

Lương hơn 14 triệu, bộ trưởng sống bằng gì?

Công chức bình thường cho đến bộ trưởng đều là con người mà lương không đủ sống thì phải tìm cách để sống.

Lương bộ trưởng hơn 14 triệu đồng sống cũng khó khăn, vậy phải sống dựa vào cái gì là chính? Đại biểu QH, báo chí lên tiếng về vấn đề này đều đúng. Bộ trưởng đã vậy, công chức phải sao đây? Công chức bình thường cho đến bộ trưởng đều là con người mà lương không đủ sống thì phải tìm cách để sống.

'Biết thiếu hụt mà cứ khuyên thanh liêm'

Đến đây lại nhớ tới nhà cải cách vĩ đại Nguyễn Trường Tộ thời kỳ Vua Tự Đức triều nhà Nguyễn. Đề cập tới lương quan lại trong bộ máy triều đình, cụ Nguyễn Trường Tộ viết: "Tôi tính lương tri huyện mỗi ngày không quá ba, bốn mạch, như vậy nuôi một người vẫn chưa đủ, huống chi nuôi một gia đình nhà quan. Đã biết thiếu hụt mà cứ đem lời nói suông, khuyên người ta thanh liêm như thế là ngầm để cho người tham nhũng.

Người Tây phương nói: Các quan lại nước Nam, trừ những người quá tham ô không nói, còn bao nhiêu những người khác, thường thường sau khi xong công việc, họ nhận của biếu xén, tạ ơn, điều đó cũng không đáng trách. Bởi vì có đủ cơm ăn, áo mặc thì mới nói đến chuyện vinh hay nhục, mà mọi việc ở đời cơ bản là sự nuôi nấng. Nếu không đủ nuôi sống, bản thân còn không tồn tại được, nói gì đến chuyện khác ngoài bản thân".

lương, bộ trưởng, cải cách lương, tham nhũng, công chức, Nguyễn Trường Tộ
Ảnh minh họa: Bình Minh

Mấy chục năm cải cách vẫn bó tay trước tham nhũng

Như vậy điểm không bình thường thứ nhất trong chế độ lương nước ta là không đủ sống. Không đủ sống nhưng người hưởng lương vẫn phải sống bằng nhiều cách. Sống dựa vào bố mẹ. Bố mẹ nuôi con ăn học, con cái đi làm vẫn dựa vào bố mẹ. Hoặc tự làm thêm đủ loại việc từ xe ôm, cắt tóc, bán hàng ăn, dạy học, dạy ngoại ngữ, mở phòng khám, chữa bệnh, mở hiệu thuốc, tư vấn, viết thuê dự án, đề án...

Cách không chính đáng là dựa vào chính công việc nhà nước trục lợi kiếm tiền. Nền hành chính qua mấy chục năm cải cách về cơ bản vẫn bó tay trước vấn nạn tham nhũng, từ tham nhũng vặt cho đến tham nhũng vừa và đại tham nhũng.

Điểm không bình thường thứ hai là lương không tuân thủ nguyên tắc thứ bậc hành chính. Lương của những người đứng đầu hệ thống không phải cao nhất.

Lương một thứ trưởng mới bổ nhiệm có thể thấp hơn lương một vụ trưởng lâu năm trong bộ. Có nước nào thiết kế lương theo kiểu như vậy?

 

Và điểm này liên quan tới vấn đề không bình thường thứ ba, đó là với cải cách lương bắt đầu từ 1993, 1994 thì hệ thống lương theo chức vụ lãnh đạo, quản lý bị xóa bỏ, có nghĩa là không có lương cho các chức vụ phó trưởng phòng, trưởng phòng, chánh, phó giám đốc sở, phó vụ trưởng, vụ trưởng và thứ trưởng và các chức vụ tương đương. Thay vào đó là cái gọi là phụ cấp trách nhiệm (lãnh đạo, quản lý).

Đây cũng là điểm khác căn bản của lương công vụ Việt Nam so với nhiều nước. Giá trị thật của chức vụ lãnh đạo, quản lý thể hiện qua phụ cấp bị hạ thấp đáng kể và cái mà một bộ phận lãnh đạo, quản lý tìm kiếm lại là lợi lộc gắn với công việc thay cho giá trị đó.

Điểm không bình thường thứ tư là tính bính quân chủ nghĩa, cào bằng trong chế độ lên lương. Cứ tằng tằng hai, ba năm lên một bậc. Sau này đã chỉnh sửa bằng chế độ lên lương sớm, nhưng lại khống chế tỉ lệ phần trăm quá chặt.

Thêm vào đó, thực tiễn hầu như không có chuyện hạ bậc lương, cho nên yếu tố khen thưởng và kỷ luật trong chế độ lên lương hầu như không có. Chất lượng công vụ vì thế cũng bị ảnh hưởng.

Quá nhiều phụ cấp đặc thù

Điểm không bình thường thứ năm là hệ thống lương có quá nhiều chế độ phụ cấp có tính đặc thù. Lương thấp nên hầu như ngành nào cũng thuyết minh, báo cáo ngành, lĩnh vực mình quản lý có đặc thù riêng, cần thể hiện ra là cái gọi là phụ cấp: phụ cấp độc hại, phụ cấp ngành giáo dục, y tế, thanh tra, phụ cấp công vụ..

Có ngành có phụ cấp thâm niên, nhưng có ngành lại không. Tính công bằng tương đối trong chế độ tiền lương bị phá vỡ.

Điểm không bình thường thứ sáu là tách lương lãnh đạo doanh nghiệp nhà nước (DNNN) ra khỏi hệ thống lương hành chính, sự nghiệp. Với quan niệm là tăng cường tính chủ động, tự chịu trách nhiệm của DNNN, lời lỗ tự lo, nên hầu như sự kiểm soát của nhà nước về lương các chức vụ lãnh đạo DNNN không có và thực tế có sự chênh quá lớn với lương hệ thống hành chính sự nghiệp.

Điểm không bình thường thứ bảy trong hệ thống lương, thu nhập nước ta là tính công khai, minh bạch rất thấp và cơ chế đi kèm nhằm bảo đảm. Lương của Thủ tướng Singapore, của Tổng thống Mỹ được công khai. Tổng thống Mỹ thôi chức thì chế độ lương hưu, chế độ bảo vệ, đi lại, chế độ lập thư viện... đều được công khai.

Việt Nam cũng có các chế độ tương ứng. Tuy nhiên cụ thể như thế nào thì không ai biết, gần như là bí mật quốc gia. Nói đơn giản như các vị đại biểu QH họp cả tháng trời như vậy có nhận thêm tiền thù lao, bồi dưỡng? Nhận thù lao là hoàn toàn chính đáng, cần được công khai.

Với những điểm không bình thường như vậy, câu chuyện cải cách tiền lương ở nước ta sẽ còn dài dài.

Theo Đinh Duy Hòa, nguon Vietnamnet

Chi tiết
Khảo sát vườn điều ghép năng suất cao

Khảo sát vườn điều ghép năng suất cao

Nhiều nhà vườn SX điều ở các huyện Trảng Bom, Xuân Lộc, Tân Phú (Đồng Nai) được Trung tâm Nghiên cứu và phát triển điều (Viện KHKT nông nghiệp miền Nam) khảo sát giống và bình tuyển cây đầu dòng cho năng suất, chất lượng tốt.

Khảo sát vườn điều ghép năng suất cao

Ông Bê bên vườn điều ghép cho thu nhập cao

 

 

Chi tiết
Nấm hương “thương” phụ nữ

Nấm hương “thương” phụ nữ

 

TT - Các nhà khoa học Mỹ đang mở rộng nghiên cứu dùng chiết xuất từ nấm hương để ngăn chặn ung thư cổ tử cung. Còn y học cổ truyền đã coi nấm hương là thuốc bổ cao cấp.

Nấm hương khô được bán tại chợ Bà Chiểu, Q.Bình Thạnh, TP.HCM chiều 29-11 -  Ảnh: Quang Định

Nấm hương khô được bán tại chợ Bà Chiểu, Q.Bình Thạnh, TP.HCM.  Ảnh: Quang Định

Chi tiết
Trồng mè lãi gấp 3 lúa.

Trồng mè lãi gấp 3 lúa.

Mè (Sesamum indicum L.) còn gọi là vừng, là loại cây có dầu, cây thực phẩm hiện đang được rất nhiều địa phương quan tâm phát triển, đặc biệt là vùng ĐBSCL. Cây mè có thời gian sinh trưởng ngắn, thuận lợi trong tiêu dùng ở phạm vi nông hộ, đồng thời cũng là cây trồng “dễ tính”, ít đòi hỏi thâm canh, có khả năng tận dụng đất đai, mùa vụ, dễ tiêu thụ trên thị trường, thích hợp luân, xen canh và gối vụ.

Trong những năm gần đây, giá mè hạt tương đối ổn định và dễ tiêu thụ trên thị trường. Với thời gian sinh trưởng ngắn, chịu hạn, đầu tư thấp, giá bán cao, hiện nay mè là một trong những cây trồng cạn ứng dụng để chuyển đổi cơ cấu cây trồng trên đất lúa rất hiệu quả. 

Chi tiết
Thông tin cập nhật trang 14 Thông tin cập nhật trang 14

10/ 10 - 3308 phiếu bầu
Trung tâm Nghiên cứu Thực nghiệm Nông nghiệp Hưng Lộc
Địa Chỉ: Xã Hưng Thịnh, Huyện Trảng Bom, Đồng Nai
Ðiện Thoại: (0251) 3678839; 3868279; 3868146
Fax: (0251) 3868632
Email: trungtamhungloc.harc@gmail.com
 
Online Trực tuyến :  5
Online Hôm nay:  283
Online Hôm qua:  2468
Online Tất cả:  3381538
Sản phẩm đã được thêm vào giỏ hàng
Tiếp tục mua hàng
Xem giỏ hàng